Bản tin dược liệu

BẢN TIN DƯỢC LIỆU SỐ 4/2025: RAU MÁ VÀ HẠ KHÔ THẢO

Rau má (Centella asiatica (L.) Urb.

TÁC DỤNG IN VITROIN VIVO CỦA RAU MÁ (Centella asiatica) TRÊN MÔ HÌNH VIÊM RUỘT VÀ XÁC ĐỊNH CÁC THÀNH PHẦN CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC TRONG CÂY

Hyun Young Shin và cs.

Journal of the Science of Food and Agriculture. 2025 Jul; 105(9): 4833-4844

Tổng quan: Họ Cần - Apiaceae (chi Centella) bao gồm khoảng 50 loài, trong đó nhiều loài được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh viêm khác nhau. Rau má (Centella asiatica) là một dược liệu đã được sử dụng rộng rãi trong Y học cổ truyền Ấn Độ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về hiệu quả của rau má trong điều trị viêm ruột vẫn còn hạn chế.

Kết quả: Nghiên cứu này đánh giá tác động của cao chiết nước nóng từ rau má (CA-HE) lên mô hình gây viêm trên các dòng tế bào biểu mô ruột và trên động vật. CA-HE đã làm giảm một cách hiệu quả các yếu tố viêm do IL-1β gây ra và cải thiện protein liên kết chặt (tight junction – TJ). Trên mô hình viêm đại tràng do natri sulphat dextran (DSS) gây ra ở chuột, việc cho uống CA-HE không gây độc tính và giảm đáng kể các triệu chứng lâm sàng chính của viêm đại tràng. Phân tích mô đại tràng cho thấy việc cho uống CA-HE ngăn ngừa đáng kể các yếu tố viêm do DSS và liên quan đến TJ gây ra trên chuột nhắt. Đánh giá mô học với các phương pháp nhuộm hematoxylin-eosin và axit periodic-Schiff/xanh Alcian cho thấy CA-HE làm giảm hiện tượng phá hủy các hốc tuyến, phù nề lớp dưới niêm mạc, thâm nhiễm viêm và tiết chất nhầy so với lô DSS. Việc sử dụng CA-HE qua đường uống cũng làm tăng tổng hàm lượng axit béo chuỗi ngắn trong manh tràng và phân. Cuối cùng, phân tích UHPLC-MS dự đoán rằng CA-HE chứa năm hợp chất phenolic (axit neochlorogenic, axit cryptochlorogenic, axit 1,5-dicaffeoylquinic (DCQA), 3,5-DCQA và 4,5-DCQA) cùng một flavonoid (miquelianin) như là các thành phần có hoạt tính sinh học chính.

Kết luận: Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng CA-HE có thể là ứng viên tiềm năng trong việc phòng ngừa và điều trị viêm ruột, cung cấp cơ sở dữ liệu cho việc ứng dụng CA-HE.

Lều Khánh Duy

TÁC DỤNG BẢO VỆ THẦN KINH CỦA RAU MÁ (Centella asiatica) ĐỐI VỚI THOÁI HÓA THẦN KINH DO LPS/AMYLOID BETA THÔNG QUA ỨC CHẾ QUÁ TRÌNH VIÊM THẦN KINH

Saniya Ansari và cs.

Neuroscience. 2025 May; 575: 19–35

Sự kết tụ protein và tình trạng viêm thần kinh qua trung gian tế bào thần kinh đệm microglia là những yếu tố chính góp phần vào tiến triển của thoái hóa thần kinh. Hiện nay, các loại thuốc điều trị bệnh thoái hóa thần kinh có hiệu quả hạn chế và thường đi kèm với nhiều tác dụng phụ; gợi ý nhu cầu khám phá các hoạt chất điều trị mới. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của rau má (Centella asiatica) đối với quá trình thoái hóa thần kinh do amyloid beta (Aβ) và lipopolysaccharide (LPS) gây ra, sử dụng các mô hình tế bào thần kinh đệm microglia và tế bào thần kinh  của con người. Để xác định các mục tiêu phân tử tiềm năng của rau má, các phương pháp dược lý mạng (network pharmacology) được áp dụng kết hợp với kỹ thuật docking phân tử, sau đó được thẩm định bằng các thực nghiệm ELISA gián tiếp, Western blot và miễn dịch huỳnh quang gián tiếp. Kết quả từ dược lý mạng, docking phân tử và mô hình tế bào cho thấy các protein AKT1, TNF-α, STAT3, CASP3, PTGS2, MAPK1, APP và NF-κB là những đích phân tử tiềm năng của rau má. Ngoài ra, điều trị bằng rau má giúp giảm tình trạng chết tế bào, ức chế sản sinh nitric oxide (NO) và giải phóng LDH do LPS/Aβ gây ra ở tế bào thần kinh đệm microglia và tế bào thần kinh. Tác dụng chống viêm thần kinh của rau má còn được thể hiện qua việc làm giảm các chỉ dấu viêm thần kinh do LPS, Aβ và LPS+Aβ gây ra như TNF-α, IL-6, IL-1β, AKT1, iNOS, NF-κB, MAPK3 và PTGS2 ở tế bào thần kinh đệm microglia. Đồng thời, các chỉ dấu của thoái hóa thần kinh và quá trình chết tế bào theo chương trình như APP, α-synuclein, P-tau STAT3 và CASP3 cũng giảm đáng kể trong tế bào thần kinh sau khi điều trị bằng rau má, cho thấy đặc tính bảo vệ thần kinh của dược liệu này. Lần đầu tiên, nghiên cứu đã chứng minh tác dụng bảo vệ thần kinh của rau má chống lại quá trình thoái hóa thần kinh do LPS, Aβ và LPS+Aβ kết hợp thông qua ức chế phản ứng viêm thần kinh và các dấu ấn thoái hóa thần kinh. Kết quả cho thấy rau má rất có tiềm năng trong điều trị các bệnh thoái hóa thần kinh do viêm như bệnh Parkinson và bệnh Alzheimer.

Lều Khánh Duy

PHÂN ĐOẠN SỐ 3 TỪ RAU MÁ (Centella asiatica) TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA VÀ CHẾT TẾ BÀO THEO CHƯƠNG TRÌNH Ở TẾ BÀO THẬN HEK293

Dhaneshree B Naidoo và cs.

Journal of Medicinal Food. 2025 May; 28 (5):455–464

Rau má (Centella asiatica) được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền Trung Hoa và Ấn Độ nhờ vào phổ tác dụng điều trị rộng rãi. Trước đây, cao chiết cồn từ lá rau má đã được nhóm tác giả phân đoạn bằng cột silica, thu được phân đoạn số 3 (C3). Nghiên cứu này đánh giá các tác động chống oxy hóa và chống tăng sinh của phân đoạn C3 trên tế bào thận phôi người HEK293. Ở tế bào HEK293, độc tính tế bào của C3 được đánh giá (thử nghiệm khả năng sống sót; 24 giờ;[0.2-3 mg/mL]), và xác định nồng độ ức chế 50% (IC50). Malondialdehyde (MDA), lactate dehydrogenase (LDH) (quang phổ kế), sự khử cực ty thể (Δψm), các gốc oxi hóa nội bào (ROS, đo bằng dòng chảy tế bào), nồng độ glutathione khử (GSH), glutathione oxy hóa (GSSG), hoạt tính caspase, mức ATP (đo bằng phát quang), và sự phân mảnh DNA (thử nghiệm SCGE) đều được phân tích. Biểu hiện protein được xác định bằng western blot. Biểu hiện gen được định lượng bằng qPCR. Kết quả cho thấy C3 có tác dụng làm giảm khả năng sống của tế bào HEK293 phụ thuộc liều. Các chỉ số MDA, Δψm, LDH, hoạt tính caspase, và sự phân mảnh DNA tăng đáng kể khi xử lý bằng C3 (P < 0,0004). Biểu hiện protein của yếu tố nhân liên quan đến erythroid 2 (Nrf-2), nồng độ GSH và GSSG tăng lên, trong khi biểu hiện gen các enzym chống oxy hóa (Nrf-2, GPx, SOD, và CAT) lại giảm đáng kể (P < 0,001). C3 làm giảm biểu hiện protein của cả protein Bax và Bcl-2 (P < 0,03), tăng biểu hiện gen c-myc, và giảm biểu hiện gen OGG-1 (P < 0,05). Như vậy, C3 làm giảm biểu hiện gen chống oxy hóa, tăng hàm lượng chất chống oxy hóa nội bào, và thúc đẩy tác động chống tăng sinh trên tế bào HEK293, từ đó cho thấy ở nồng độ cao, C3 có thể gây độc cho tế bào thận, và cần thận trọng đến việc ứng dụng C3 từ rau má trên người.

Lều Khánh Duy

TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA RAU MÁ (Centella asiatica) ĐỐI VỚI LÃO HÓA VÀ CHẾT TẾ BÀO THEO CHƯƠNG TRÌNH Ở TẾ BÀO BIỂU BÌ

Yu Tan và cs.

Biology (Basel). 2025 Feb; 14(2): 202

Rau má (Centella asiatica), một cây thuốc y học cổ truyền, có hoạt tính chống oxy hóa mạnh và do đó có thể ngăn ngừa lão hóa tế bào và thể hiện tác dụng chống quá trình chết theo chu trình của tế bào. Tuy nhiên, các tác dụng này vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ của cao chiết rau má đối với quá trình lão hóa tế bào và quá trình tế bào chết theo chu trình do stress oxy hóa gây ra bởi hydrogen peroxid (H2O2) trên tế bào sừng biểu bì người (tế bào HaCaT). Để đánh giá ảnh hưởng của H2O2 và rau má lên tế bào HaCaT, nhóm tác giả đã xác định khả năng sống sót của tế bào đặc trưng cho hiện tượng chết tế bào; các đặc trưng của stress oxy hóa bao gồm như các gốc tự do oxi  (ROS), khả năng dọn gốc tự do,  hoạt tính của các enzyme chống oxy hóa như superoxide dismutase (SOD), glutathione peroxidase (GPx), và catalase; hoạt tính β-galactosidase liên quan đến lão hóa tế bào (SA-β-gal) đặc trưng cho lão hóa tế bào; và hoạt tính caspase-3/9 và tỷ lệ tế bào chết theo chương trình (apoptosis) đặc trưng cho apoptosis. Kết quả cho thấy H2O2 gây chết tế bào (giảm khả năng sống), gây stress oxy hóa (tăng hoạt tính ROS, giảm khả năng loại bỏ gốc tự do, giảm hoạt tính SOD, GPx và catalase), gây lão hóa tế bào (tăng hoạt tính SA-β-gal) và gây apoptosis (tăng tỷ lệ tế bào chết theo chương trình sớm/muộn và tăng hoạt tính caspase-3/9). Cao chiết rau má đã làm giảm đáng kể tất cả các chỉ số liên quan đến chết tế bào, stress oxy hóa, lão hóa tế bào và apoptosis do H2O2 gây ra, cho thấy khả năng ngăn ngừa lão hóa và apoptosis thông qua hoạt tính chống oxy hóa của nó. Cơ chế tác dụng này có thể góp phần vào việc phòng ngừa và cải thiện tình trạng lão hóa da.

Phan Hoài Giang

SỰ THAY ĐỔI METHYL HÓA DNA TRONG MÁU NGOẠI VI Ở CHUỘT GIÀ SAU ĐIỀU TRỊ BẰNG RAU MÁ (Centella asiatica)

Olivia Monestime và cs.

Biology (Basel). 2025 Jan; 14(1): 52

Những thay đổi trong các biến đổi di truyền học biểu sinh, như methyl hóa DNA trong máu ngoại vi có thể đóng vai trò là chỉ tố sinh học hữu ích, ít xâm lấn về tác dụng của các biện pháp can thiệp chống lão hóa. Nghiên cứu này khảo sát khả năng đó của cao chiết nước từ cây rau má (Centella asiatica, CAW). Chuột nhắt C57BL/6, 18 tháng tuổi được cho uống nước có chứa CAW trong 5 tuần, so sánh với lô chuột cùng tuổi được điều trị bằng dung môi pha mẫu. Phương pháp giải trình tự bisulfit biểu diễn giảm (RRBS) đã được sử dụng để xác định sự methyl hóa khác biệt trên toàn bộ hệ gen trong máu của chuột già được điều trị bằng CAW so với nhóm đối chứng. Kết quả này cho thấy sự tập trung đáng kể các vùng methyl hóa khác biệt (DMR) gần các gen tham gia quá trình sinh học có liên quan đến lão hóa (như phản ứng chống oxy hóa, điều hòa trao đổi chất, chuyển hóa tế bào). Một sự khác biệt rõ rệt đã được quan sát thấy giữa con đực và con cái về cả số lượng vị trí methyl hóa và trạng thái methyl hóa. Ngoài ra, các gen gần hoặc trùng lặp DMR được phát hiện có liên quan đến các quá trình sinh học từng được mô tả trong các nghiên cứu trước về tác dụng của CAW lên não chuột (bao gồm: phản ứng chống oxy hóa, điều hòa trao đổi chất, điều hòa canxi và nhịp sinh học). Nhìn chung, dữ liệu của nghiên cứu này cho thấy dấu hiệu methyl hóa trong máu ngoại vi sau điều trị bằng CAW có thể là một chỉ tố sinh học có ích và dễ tiếp cận để phản ánh hiệu quả của CAW trong quá trình lão hóa.

Phan Hoài Giang

TÁC DỤNG CỦA POLYSACCHARID PECTIC PHÂN LẬP TỪ RAU MÁ (Centella asiatica) ĐỐI VỚI VIÊM ĐẠI TRÀNG GÂY BỞI DEXTRAN SULFAT NATRI (DDS)

 

Hyun Young Shin và cs.

International Journal of Biological Macromolecules. 2025 Jan; 285: 138237

Việc bổ sung polysaccharide vào chế độ ăn uống cho thấy tác dụng điều trị mạnh mẽ đối với bệnh viêm ruột (IBD). Rau má (Centella asiatica, CA) từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền Ấn Độ và Trung Quốc. Tuy nhiên, tác dụng của polysaccharid pectic phân lập từ CA đối với IBD vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu này nhằm xác định tác dụng của polysaccharid pectic phân lập từ CA đối với IBD. Polysaccharide thô (CA-CP), được phân lập từ cao chiết nước nóng từ rau má, là một polysaccharid pectic điển hình, bao gồm chủ yếu là axit galacturonic (40,6%), galactose (27,6%), arabinose (13,5%) và rhamnose (8,5%). CA-CP cải thiện rõ rệt các triệu chứng lâm sàng trên mô hình động vật gặm nhấm bị viêm đại tràng gây bởi DSS, bao gồm thay đổi cân nặng (9,9-12,0%), chỉ số  hoạt động của bệnh (31,6-51,9%), chiều dài đại tràng (13,2-21,5%) và trọng lượng lách (21,8-26,3%). CA-CP điều hòa biểu hiện của các yếu tố viêm và kết nối biểu mô thông qua con đường MAPK và NF-κB. CA-CP phần nào giúp giảm phá hủy hốc tuyến, phù dưới niêm mạc, thâm nhiễm viêm và tiết chất nhầy do DSS gây ra. Hàm lượng tổng số axit béo chuỗi ngắn tăng đáng kể (manh tràng 29,8-53,7%, phân 75,4-109,3%) khi dùng CA-CP đường uống so với lô DSS. Phân tích hệ lợi khuẩn ở manh tràng cho thấy việc sử dụng CA-CP điều hòa viêm đại tràng do DSS bằng cách giảm mật độ vi khuẩn Escherichia (5,0-10,9%) và Clostridium (0,3-0,4%), đồng thời tăng mật độ lợi khuẩn Bacteroidetes (6,8-8,5%), Ligilactobacillus (2,7-6,0%) và Bilophilia (0,3-0,6%). Những phát hiện này cung cấp dữ liệu cơ bản cho việc phát triển các hoạt chất điều trị chức năng mới trong phòng ngừa và điều trị viêm đại tràng, sử dụng polysaccharid pectic phân lập từ CA. Hơn nữa, đây là nghiên cứu đầu tiên chứng minh tác dụng của polysaccharid pectic phân lập từ rau má (CA) đối với bệnh viêm ruột (IBD).

Phan Hoài Giang

RAU MÁ (Centella asiatica) TĂNG CƯỜNG BIỂU HIỆN GEN CHỐNG OXY HÓA VÀ HÔ HẤP TY THỂ TRONG MÔ HÌNH VIÊM NÃO–TỦY TỰ MIỄN THỰC NGHIỆM

Payel Kundu và cs.

Pharmaceuticals (Basel). 2024 Dec; 17(12): 1681

Tổng quan/Mục tiêu: Rau má (Centella asiatica L. Urban thuộc họ Cần, Apiaceae) là một loại dược liệu truyền thống được sử dụng trong điều trị các bệnh liên quan đến lão hóa và sa sút trí tuệ. Cao chiết nước của rau (CAW) đã được sử dụng để điều trị các triệu chứng rối loạn tâm thần kinh trên các mô hình động vật và có liên quan đến làm tăng biểu hiện các gen yếu tố đáp ứng chống oxy hóa (ARE) cũng như cải thiện chức năng hô hấp ty thể và sức khỏe thần kinh. Do bệnh đa xơ cứng (Multiple Sclerosis - MS) là bệnh lý thoái hóa thần kinhcũng liên quan đến stress oxy hóa và rối loạn chức năng ty thể, giống như trong lão hóa và sa sút trí tuệ, nên các triệu chứng rối loạn tâm thần kinh trong MS cũng có thể được cải thiện nhờ cao chiết rau má. Để xác định liệu CAW có mang lại lợi ích tương tự trên triệu chứng tâm thần kinh của MS, biểu hiện gen ARE và hô hấp ty thể trong các mô hình viêm của bệnh đa xơ cứng, cũng như để xác định ảnh hưởng của cao chiết nước rau má lên mức độ khuyết tật và phản ứng viêm trên lâm sàng, nghiên cứu này đã tiến hành thử nghiệm CAW trên mô hình viêm não tủy tự miễn thực nghiệm (Experimental Autoimmune Encephalomyelitis – EAE). Phương pháp: Chuột nhắt C57BL/6J được gây bệnh EAE và được điều trị bằng CAW hoặc giả dược trong 2 tuần. Các chỉ số đánh giá bao gồm dấu hiệu lo âu (qua thử nghiệm môi trường mở), biểu hiện gen ARE, hô hấp ty thể, tình trạng viêm và mất myelin. Kết quả: Ở liều lượng và phác đồ thử nghiệm, nhóm chuột EAE được điều trị với CAW có sự tăng biểu hiện gen ARE và hoạt tính hô hấp ty thể so với nhóm chuột EAE điều trị bằng giả dược. CAW cũng có liên quan đến việc giảm thâm nhiễm viêm trong tủy sống, tuy nhiên chưa có sự khác biệt rõ ràng giữa quần thể tế bào thần kinh đệm microglia hoạt hóa và không hoạt động. CAW không cải thiện được hành vi, mức độ khuyết tật vận động do EAE, hoặc tình trạng mất myelin. Kết luận: Trong mô hình viêm EAE của MS, CAW thể hiện các tác dụng bảo vệ thần kinh tương tự như đã ghi nhận trong các mô hình chuột lão hóa và sa sút trí tuệ. Những lợi ích này, cùng với tác dụng chống viêm của CAW, gợi ý tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của rau má lên các triệu chứng tâm thần kinh ở bệnh nhân MS.

Phạm Minh Hiếu

RAU MÁ (Centella asiatica) CẢI THIỆN CHỨC NĂNG NHẬN THỨC VÀ THAY ĐỔI HỆ CHUYỂN HÓA VÙNG HỒI HẢI MÃ Ở CHUỘT GIÀ CHUYỂN GEN  Tg2576 VÀ CHUỘT KHÔNG CHUYỂN GEN

Donald G Matthews và cs.

Journal of Alzheimer’s Disease Reports. 2024 Dec; 8(1):  1611–1638

Tổng quan: Bệnh Alzheimer (AD) là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ngày càng gia tăng ở dân số cao tuổi, với các lựa chọn điều trị còn hạn chế. Trước đây, nhóm tác giả đã báo cáo rằng cao chiết nước rau má (Centella asiatica , CAW) có tác dụng làm chậm suy giảm nhận thức trên các mô hình động vật gặm nhấm mắc bệnh Alzheimer và lão hóa.

Mục tiêu: Nghiên cứu sự thay đổi trong hệ chuyển hóa vùng hồi hải mã liên quan đến khả năng cải thiện chức năng nhận thức và giảm sự tích tụ mảng amyloid-β (Aβ) của CAW trên chuột chuyển gen Tg2576 và chuột không chuyển gen (WT) già.

Phương pháp:Nghiên cứu này so sánh chức năng nhận thức, mức độ tích tụ mảng Aβ tại vùng hồi hải mã và dữ liệuchất chuyển hóa trong hồi hải mã ở chuột cái Tg2576, 20 tháng tuổi và chuột WT cùng lứa sau 3–5 tuần điều trị bằng CAW (liều 0, 200 hoặc 1000 mg/kg/ngày qua đường uống). Kiểm tra nhận thức bao gồm thử nghiệm phản ứng sợ theo bối cảnh (CFR) và thử nghiệm nhận diện đồ vật mới (NORT). Mức độ tích tụ mảng Aβ được đánh giá bằng phương pháp hóa mô miễn dịch. Dữ liệuchất chuyển hóa của vùng hồi hải mã chuột được phân tích bằng sắc ký lỏng ghép nối với phổ khối kép độ phân giải cao.

Kết quả: Điều trị bằng CAW cải thiện phụ thuộc liều hành vi của chuột Tg2576 và WT trong cả thử nghiệm CFR và NORT . Tuy nhiên, trong khi thử nghiệm CFR liên quan đến dẫn truyền thần kinh và mức độ ceramide glycosyl hóa, thì thử nghiệm NORT liên quan đến lysophosphatidylcholine và các chất chuyển hóa oxy hóa và sự tích tụ Aβ liên quan đến tăng dẫn truyền kích thích và giảm dẫn truyền ức chế thần kinh. Chỉ một phần nhỏ các thay đổi chuyển hóa do CAW gây ra ở chuột Tg2576 phản ánh sự đảo ngược các khác biệt chuyển hóa giữa chuột Tg2576 và WT, cho thấy có sự tham gia của các cơ chế khác trong tác dụng cải thiện nhận thức của CAW.

Kết luận: Cơ chế tác dụng cải thiện nhận thức của CAW vượt ra ngoài việc đảo ngược các tác động chuyển hóa do tích tụ Aβ gây ra. Dữ liệu này cho thấy tiềm năng sử dụng CAW trong việc cải thiện trí nhớ ở người cao tuổi, dù có hay không mắc bệnh Alzheimer.

Phạm Minh Hiếu

CAO CHIẾT CỒN RAU MÁ (Centella asiatica) VÀ AXIT MADECASSIC ĐẢO NGƯỢC HÀNH VI TRẦM CẢM, VIÊM VÀ STRESS OXY HÓA Ở CHUỘT TRƯỞNG THÀNH CHỊU STRESS GIAI ĐOẠN ĐẦU ĐỜI

Amanda Gollo Bertollo và cs.

Molecular Neurobiology. 2024 Dec; 61(12): 10182–10197

Rối loạn trầm cảm nặng (MDD) là một là một tình trạng bệnh lý nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và một trong số các yếu tố bệnh sinh cơ bản của MDD là stress do thiếu vắng mẹ (maternal deprivation – MD) thời kỳ đầu đời. Bên cạnh đó, các liệu pháp dược lý điều trị trầm cảm kinh điển thường gây tác dụng phụ nghiêm trọng. Rau má (Centella asiatica) cho thấy tác dụng bảo vệ thần kinh tiềm năng, nhưng chưa được đánh giá trên mô hình MD. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng của cao chiết rau má và hoạt chất axit madecassic lên hành vi giống trầm cảm, phản ứng viêm và stress oxy hóa tại vùng hồi hải mã và huyết thanh của chuột cống non bị MD từ những ngày đầu đời. Chuột cống con (sau khi sinh được 1 ngày) được tách mẹ 3 giờ mỗi ngày trong 10 ngày. Khi đến tuổi trưởng thành, chuột được chia thành các lô và được điều trị trong 14 ngày. Sau khi thực hiện các thử nghiệm về hoạt động vận động trong thử nghiệm môi trường mở và hành vi trầm cảm trong thử nghiệm bơi cưỡng bức, chuột được an tử. Vùng hồi hải mã và huyết thanh được thu lại để phân tích các cytokine viêm và các chỉ số đặc trưng của stress oxi hóa. Cả cao chiết rau má và hoạt chất đều đảo ngược hoặc làm giảm hành vi giống trầm cảm, phản ứng viêm tại hồi hải mã, và các chỉ số liên quan đến stress oxy hóa ở cả trong huyết thanh và hồi hải mã. Kết quả này gợi ý rằng rau má và axit madecassic có tác dụng chống trầm cảm tiềm năng, ít nhất một phần, thông qua tác dụng chống viêm và chống oxy hóa.

 

Phạm Minh Hiếu

XƠ PHỔI GÂY BỞI BLEOMYCIN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA RAU MÁ (Centella asiatica)

Noni Novisari Soeroso và cs.

Journal of Experimental Pharmacology. 2024 Sep; 16: 311-320

Giới thiệu: Điều trị bằng thảo dược đã được sử dụng trong hàng nghìn năm và đã được chứng minh có thể điều trị các bệnh cấp và mạn tính. Công dụng trong truyền thống của rau má (Centella asiatica) bao gồm kháng khuẩn, chống ung thư, chống oxy hóa và gen trị liệu trong làm lành vết thương và chống viêm. Xơ phổi gây bởi bleomycin có thể tiến triển thành bệnh phổi mạn tính, dẫn đến hoại tử mô nếu không được điều trị kịp thời. Mục đích của nghiên cứu này là để dự đoán và giải thích ứng dụng của cao chiết rau má như một liệu pháp điều trị hoặc chống xơ hóa phổi trên mô hình chuột cống tiếp xúc với bleomycin .

Phương pháp: Nghiên cứu này là một nghiên cứu phân tích với thiết kế thực nghiệm in vivo ngẫu nhiên, được chia thành 3 nhóm gồm 5 chuột cống chủng Wistar đực 10 tuần tuổi. Lô chứng bệnh lý (K được phơi nhiễm bleomycin qua đường khí quản. Lô chứng dương liều thấp được phơi nhiễm bleomycin qua đường khí quản với liều 4 mg/kg/BB vào ngày 0 và 21 và được uống cao chiết rau má liều 400 mg (P1) từ ngày 15 đến ngày 49. Lô chứng dương liều cao được phơi nhiễm  bleomycin qua đường khí quản với liều 4 mg/kg/BB vào ngày 0 và 21 và được uống cao chiết rau má liều 800 mg (P2) từ ngày 15 đến ngày 49. Dữ liệu thu thập được dựa trên các phát hiện trong phân tích mô học mẫu phổi của chuột cống.

Kết quả: Trong phân tích vách gian phế nang, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong kết quả nhuộm Masson Trichrome giữa lô K và P1 với p<0,05 (p=0,036). Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong kết quả nhuộm mô bệnh học giữa lô K và P2 (p>0,05).

Kết luận: Phơi nhiễm bleomycin liều 4 mg/kg/BB đã được chứng minh gây xơ phổi ở chuột cống và cao chiết rau má đã được sử dụng như một liệu pháp điều trị. Do đó, nghiên cứu sâu hơn về các thuốc chống xơ hóa được hy vọng giảm đáng kể diện tích xơ hóa.

Phạm Anh Tùng

RAU MÁ (Centella asiatica ) VÀ THÀNH PHẦN AXIT CAFFEOYLQUINIC VÀ TRITERPENE  LÀM TĂNG CƯỜNG SỰ PHÂN NHÁNH CỦA TẾ BÀO THẦN KINH HỒI HẢI MÃ CHUỘT NHẮT VÀ CẢI THIỆN SUY GIẢM VẬN ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN TUỔI TÁC Ở RUỒI GIẤM

Karon Rowe và cs.

Frontiers in aging. 2024 Jul; 5: 1374905

Giới thiệu: Rau má (Centella asiatica, CA) được biết đến trong y học Ấn Độ như là một loại thảo dược có tác dụng trẻ hóa với những lợi ích đặc biệt đối với hệ thần kinh. Hai nhóm chất thứ cấp đặc biệt được tìm thấy trong rau má và được cho là góp phần vào các tác dụng có lợi là các triterpene (TTs) và các axit caffeoylquinic (CQAs). Để đánh giá vai trò và các tương tác của TTs và CQAs trong tác dụng của rau má, nghiên cứu này đã đánh giá tác dụng dưỡng tế bào thần kinh của cao chiết nước từ rau má (CAW) và các phối hợp của các thành phần TT và CQA trên tế bào thần kinh sơ cấp hồi hải mã in vitro và trên ruồi giấm Drosophila melanogaster trong mô mình in vivo

Phương pháp: Các tế bào thần kinh hồi hải mã sơ cấp được phân lập từ bào thai chuột và được xử lý in vitro với CAW (nồng độ 50 µg/mL), hỗn hợp TTs, CQAs hoặc TT + CQA hoặc 4 hợp chất TTs hoặc 8 hợp chất CQA đơn lẻ của CAW trong 5 ngày. Sự phân nhánh của các tế bào đuôi gai (dendrites) được đánh giá bằng phân tích Sholl. Ruồi giấm Drosophila được nuôi đến 28 ngày tuổi và được điều trị trong 2 tuần với CAW (10 mg/mL) trong thức ăn, hỗn hợp TTs, CQAs hoặc TT + CQA và các hợp chất TT và CQA đơn lẻ. TTs và CQAs được thử nghiệm ở nồng độ tương đương với CAW được sử dụng trong điều trị. Sau 2 tuần điều trị, ruồi giấm 42 ngày tuổi được đánh giá phản ứng hướng sáng.

Kết quả: Ở tế bào thần kinh hồi hải mã sơ cấp chuột, CAW (50 µg/mL), hỗn hợp TT, hỗn hợp CQA, tất cả đơn chất TTs và phần lớn CQAs tăng cường đáng kể sự phân nhánh của các tế bào đuôi gai hơn so với chứng sinh lý. Tuy nhiên, phối hợp TT + CQA gây suy giảm đáng kể sự phân nhánh của các tế bào đuôi gai . Trong mô hình ruồi giấm, có sự suy giảm nhanh phản ứng hướng sáng liên quan đến tuổi đáng chú ý được quan sát ở cả ruồi đực và cái trong khoảng thời gian 60 ngày. Tuy nhiên, điều trị từ ngày 28 trở đi với CAW (10 mg/mL), hoặc nồng độ tương đương của hỗn hợp TTs, hỗn hợp CQAs và hỗn hợp TT + CQA có tác dụng phục hồi phản ứng hướng sáng ở cả ruồi đực và cái . Trong tất cả các hợp chất đơn lẻ, chỉ có 1,5-diCQA làm chậm sự suy giảm hướng sáng liên quan đến tuổi ở ruồi giấm đực và cái.

Bàn luận: Nghiên cứu này đã xác nhận khả năng tăng cường sự phân nhánh của các tế bào đuôi gai thần kinh chuột, và hồi phục sự suy giảm thần kinh liên quan đến tuổi ở ruồi giấm Drosophila của CAW. Thành phần TT và CQA đều góp phần vào tác dụng này nhưng không có tác dụng hiệp đồng. Trong khi các hợp chất TTs đơn lẻ và phần lớn các hợp chất CQAs đơn lẻ tăng cường sự phân nhánh của tế bào đuôi gai ở nồng độ tương đương trong CAW, trong mô hình ruồi giấm Drosophila, chỉ có hợp chất 1,5-diCQA có khả năng làm chậm sự suy giảm hướng sáng liên quan đến tuổi. Điều này cho thấy rằng sự phối hợp (hoặc ở nồng độ cao hơn) của các hợp chất khác là cần thiết để mang lại khả năng phục hồi trong mô hình này.

Phạm Anh Tùng

RAU MÁ (Centella asiatica) CẢI THIỆN ĐỘC TÍNH THẬN GÂY BỞI AlCl3 VÀ D-GALACTOSE Ở CHUỘT CỐNG THÔNG QUA ĐIỀU HÒA STRESS OXY HÓA

Thirupathirao Vishnumukkala và cs.

Bioinformation. 2024 May; 20(5): 508-514

Độc tính trên thận là một tình trạng gây ra bởi các tác dụng gây độc của các thuốc và chất độc dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng chức năng thận. Rau má (Centella asiatica) là một thảo dược với đặc tính chống oxy hóa và chống viêm đã được sử dụng để chữa nhiều bệnh khác nhau. Nghiên cứu này nhằm khám phá khả năng ngăn ngừa độc tính trên thận gây bởi AlCl3 và D-Galactose trên chuột cống của rau má. Trong nghiên cứu này, 30 chuột cống Wistar albino đực được gây độc tính thận bằng AlCl3 và D-galactose và uống cao chiết rau má (liều 100, 200 và 300 mg/kg/ngày) trong 70 ngày. Thận được thu lấy sau khi kết thúc điều trị và mức độ enzym oxi hóa và chống oxi hóa, creatinin huyết thanh và albumin huyết thanh được đo lường. Sự thay đổi mô bệnh học của thận cũng được nghiên cứu. Điều trị bằng cao chiết rau má làm tăng đáng kể albumin huyết thanh, mức độ superoxid dismutase (SOD) và catalase trong dịch đồng thể thận đồng thời làm giảm nồng độ creatinin huyết thanh và malondialdehyd (MDA) và giảm thiểu sự thay đổi mô bệnh học liên quan đến độc tính trên thận. Cao chiết rau má làm giảm creatinin huyết thanh và stress oxi hóa trong mô hình độc tính trên thận ở chuột cống gây bởi thuốc, đồng thời làm tăng nồng độ albumin huyết thanh thông qua sự giảm thiểu thay đổi mô học và bình thường hóa các chỉ số đặc trưng của stress oxi hóa ở thận.

Phạm Anh Tùng

RAU MÁ (Centella asiatica) CẢI THIỆN TRÍ NHỚ VÀ CHỨC NĂNG NHẬN THỨC Ở CHUỘT TRUNG NIÊN BẰNG CÁCH KIỂM SOÁT STRESS OXY HÓA VÀ DẪN TRUYỀN CHOLINERGIC

Zeba Firdaus và cs.

Journal of ethnopharmacology. 2024 May; 325: 117888

Ý nghĩa dược lý dân tộc học: Rau má, Centella asiatica (L.) Urban, là một loại thảo dược có lịch sử sử dụng lâu đời trong y học truyền thống ở Ấn Độ. Loại thảo dược này được đánh giá cao nhờ nhiều công dụng y học đa dạng như cải thiện trí nhớ, cũng như được dùng trong dân gian để điều trị các bệnh ngoài da, làm lành vết thương và có tác dụng lợi tiểu nhẹ.

Mục tiêu nghiên cứu: Lão hóa là một quá trình suy giảm tự nhiên diễn ra dần dần và liên tục trong các hệ cơ quan sinh học, bao gồm cả não bộ. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của cao chiết cồn từ rau má (CAE) đối với suy giảm nhận thức liên quan đến tuổi ở chuột, đồng thời làm rõ cơ chế tác dụng của nó.

Nguyên vật liệu và phương pháp: Chuột cống được chia thành 5 lô, mỗi lô gồm 5 con: chuột cống non (3 tháng tuổi), chuột trung niên (13-14 tháng tuổi), và ba lô còn lại bao gồm chuột trung niên được điều trị bằng CAE với các liều khác nhau (150, 300 và 450 mg/kg thể trọng) qua đường uống trong 42 ngày. Hành vi của chuột được đánh giá thông qua các thử nghiệm mê lộ chữ Y, thử nghiệm môi trường mở, thử nghiệm nhận diện đồ vật và thử nghiệm mê lộ chữ thập nâng cao. Các thay đổi về chỉ số sinh hóa và cấu trúc trong não chuột cống được phân tích gồm: hàm lượng malondialdehyde (MDA), hoạt tính enzym superoxide dismutase (SOD) và acetylcholinesterase (AChE); cùng với nhuộm mô học H&E. CAE cũng được phân tích bằng HPLC và được đánh giá khả năng chống oxy hóa và ức chế cholinesterase in vitro. Các hoạt chất trong CAE được khảo sát khả năng gắn kết với enzyme AChE và BuChE bằng mô hình docking phân tử.

Kết quả: Kết quả cho thấy điều trị bằng CAE cải thiện hành vi của chuột, làm giảm sự gia tăng MDA, SOD và AChE liên quan đến tuổi, đồng thời giảm tổn thương tế bào thần kinh. Nghiên cứu in vitro cho thấy CAE có hoạt tính chống oxy hóa và ức chế AChE phụ thuộc vào nồng độ. Thêm vào đó, sự hiện diện của axit asiatic và axit madecassic trong CAE cùng với khả năng gắn kết tốt với các enzyme cholinergic (qua phân tích in silico) cũng gợi ý tác dụng kháng cholinergic của CAE.

Kết luận: Các phát hiện từ nghiên cứu này cho thấy tác dụng kháng cholinergic và chống oxy hóa của CAE là nhờ vào sự hiện diện của axit asiatic và axit madecassic, không chỉ giúp bảo vệ thần kinh trước sự suy giảm nhận thức do tuổi tác mà còn có thể phục hồi chức năng nhận thức.

Phí Đình Uy

XÁC ĐỊNH HOẠT TÍNH CHỐNG UNG THƯ CỦA CAO CHUẨN HÓA RAU MÁ (ECA 233) ĐỐI VỚI SỰ TĂNG SINH VÀ DI CĂN Ở TẾ BÀO UNG THƯ KHOANG MIỆNG

Suwisit Manmuan và cs.

Research in Pharmaceutical Sciences. 2024 Apr; 19(2): 121-147

Tổng quan và mục tiêu: Các thuốc điều trị ung thư khoang miệng hiện nay gặp nhiều hạn chế, như độ tan kém, tính thấm thấp và sinh khả dụng không cao. Tuy nhiên, hoạt tính chống ung thư của ECa 233 vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá hoạt tính chống ung thư của ECa 233.

Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm MTT được sử dụng để đánh giá khả năng sống sót của tế bào. Các đặc điểm của quá trình apoptosis (tự chết theo chương trình) được theo dõi bằng nhuộm DAPI và FDA, cũng như nhuộm Hoechst 33258 và AO. Quá trình bị apoptosis ở tế bào ung thư khoang miệng KON được xác nhận bằng nhuộm annexin V-FITC, trong khi sự tạo thành các gốc oxy hóa (ROS) được xác định bằng nhuộm DCFDA. Hoạt tính gây chết tế bào và ức chế chu kỳ tế bào của ECa 233 được phân tích bằng máy đo dòng chảy tế bào (flow cytometer). Khả năng ức chế di chuyển (anti-migration) và xâm lấn (anti-invasion) của ECa 233 cũng được kiểm tra. Tác dụng chống tăng sinh của ECa 233 được nghiên cứu và mức độ dung nạp vào tế bào được đo thông qua giá trị TEER. Dược động học của ECa 233 được ước tính bằng công cụ pkCSM trên nền tảng web.

Kết quả: ECa 233 làm giảm khả năng sống của tế bào ung thư khoang miệng KON. Phân tích hình thái học cho thấy tế bào KON bị mất ổn định cấu trúc, nhân và bào tương bị rối loạn, dẫn đến chết tế bào. ECa 233 gây ngừng chu kỳ tế bào ở pha G0/G1 và làm giảm khả năng di chuyển và xâm lấn của tế bào KON. Giá trị TEER tăng đáng kể trong tế bào KON cho thấy sự hình thành cụm tế bào và khối u dạng cầu đã thuyên giảm. Hồ sơ dược động học của các thành phần chính gợi mở tiềm năng ứng dụng trong tương lai.

Kết luận và ý nghĩa: ECa 233 có thể được sử dụng như một liệu pháp thay thế cũng như là một loại thảo dược tiềm năng giúp tăng độ nhạy cảm của tế bào ung thư khoang miệng với hóa trị liệu.

Phí Đình Uy

TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA MADECASSOSID, MỘT TRITERPENOID TỪ RAU MÁ (Centella asiatica) CHỐNG LẠI STRESS OXY HÓA TRONG TẾ BÀO INS-1E

Swee Ching Tan và cs.

Natural Product Research. 2025 May; 39(10): 2787-2794 

Sự suy giảm chức năng tế bào β và giảm khối lượng tế bào β tiến triển là yếu tố quan trọng trong bệnh đái tháo đường typ 2. Nghiên cứu này chứng minh giả thuyết rằng tác dụng bảo vệ đã được chứng minh trước đó của madecassosid đối với tế bào β trong mô hình đái tháo đường thực nghiệm là tác dụng trực tiếp. Nhóm tác giả đã khảo sát tác dụng bảo vệ của madecassosid trên dòng tế bào β (INS-1E) chống lại nhiều tác nhân gây hại. Tế bào INS-1E được xử lý bằng madecassosid trong điều kiện nồng độ glucose cao (HG), hỗn hợp cytokin, hydrogen peroxid (H2O2), hoặc streptozotocin (STZ). Các tác nhân HG, hỗn hợp cytokin, H2O2 và STZ đều làm giảm đáng kể khả năng sống của tế bào; tuy nhiên, hiện tượng này được cải thiện rõ rệt khi có sự hiện diện của madecassosid. Tiền xử lý bằng madecassosid làm giảm số lượng tế bào bị apoptosis (chết theo chương trình) do HG, cytokine, H2O2 và STZ gây ra, đồng thời giảm sản sinh các loại oxy phản ứng (ROS) theo cách phụ thuộc nồng độ. Madecassosid còn làm tăng đáng kể khả năng tiết insulin khi nồng độ glucose cao. Kết quả này cho thấy tác dụng bảo vệ của madecassosid in vivo là do tác động trực tiếp lên tế bào β.

Phí Đình Uy

PHÂN TÍCH CÁC THÀNH PHẦN HOÁ THỰC VẬT CỦA HẠ KHÔ THẢO (PRUNELLA VULGARIS) BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ LỎNG HIỆU SUẤT CAO, KHỐI PHỎ THỜI GIAN BAY BỐN CỰC KẾT HỢP VỚI MẠNG LƯỚI PHÂN TỬ VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH CHỐNG OXI HOÁ VÀ CHỐNG α – GLUCOSIDASE CỦA CHÚNG

Li-Ping Cao và cs.

Biomed Chromatogr 2024 Jan;38(1):e5771

Hạ khô thảo (Prunella vulgaris) từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền và được dùng làm trà ở Trung Quốc. Nghiên cứu này xác định hàm lượng axit phenolic tổng và flavonoid toàn phần của mẫu các mẫu Hạ khô thảo ở các vùng địa lý khác nhau. Kết quả cho thấy hàm lượng axit phenolic tổng dao động từ 4,15 đến 8,82g tính theo khối lượng axit gallic trên 100 g  khối lượng khô, và hàm lượng flavonoid toàn phần là 4,67-7,33 g tính theo khối lượng rutin trên 100 g khối lượng khô. Hoạt tính chống oxy hóa được đo bằng 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl và muối diammonium 2,2’azino-bis-( axit 3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic), và kết quả lần lượt dao động từ 73,47% đến 94,43% và 74,54% đến 93,39%, trong khi khả năng ức chế α-glucosidase nằm trong khoảng từ 75,31% đến 95,49%. Phân tích tương quan cho thấy flavonoid toàn phần trong Hạ khô thảo có hoạt tính chống oxy hóa và kháng α-glucosidase vượt trội so với các hợp chất phenolic tổng. Các thành phần hoạt tính của Hạ khô thảo đã được phân tích bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối khối phổ thời gian bay tứ cực kết hợp với cả mạng lưới phân tử cổ điển và mạng lưới phân tử dựa trên đặc tính trên nền tảng Global Natural Products Social, xác định được 32 hợp chất, bao gồm 14 flavonoid, 12 hợp chất phenolic và 6 hợp chất khác. Những kết quả này có thể cung cấp thông tin hữu ích về việc sử dụng P. vulgaris như một loại trà chức năng.

Võ Văn Nghĩa

Tin dịch

Hạ khô thảo (Prunella vulgaris)

HOẠT TÍNH CHỐNG LÃO HÓA DO ÁNH SÁNG CỦA TRITERPENOID PHÂN LẬP TỪ RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA)

Yi-Yun Dang  và cs

Phytochemistry. 2024 Dec:228:114246

Rau má (Centella asiatica (L.) Urban) là một loại cây thuốc giàu triterpenoid, thường được sử dụng ở châu Á để điều trị các bệnh về da như mụn trứng cá. Để tìm kiếm các tác nhân chống lão hóa do ánh sáng, 16 hợp chất triterpenoid đã biết và năm hợp chất triterpenoid chưa được mô tả, bao gồm ba ursan, một oleanan và một nor-ursan đã được phân lập từ cây rau má. Cấu trúc và lập thể hóa tương đối của các hợp chất này đã được xác định bằng phổ NMR và HRESIMS. Hợp chất 1 và 2 là các đồng phân của triterpen loại ursan và loại olean với các nhóm aldehyd hiếm trên C-23. Hợp chất 4 là một ví dụ độc đáo về triterpenoid loại nor-ursan. Mô hình tổn thương tế bào HaCaT do tia cực tím B (UVB) gây ra đã được sử dụng để đo hoạt tính chống lão hóa do ánh sáng in vitro của tất cả 21 hợp chất. Hai mươi hợp chất làm tăng đáng kể khả năng sống của HaCaT và ức chế giải phóng lactat dehydrogenase (LDH) sau khi tiếp xúc với tia UVB. Những phát hiện này làm nổi bật tác dụng bảo vệ của triterpenoid phân lập từ rau má chống lại tác hại của tia UVB và chỉ ra tiềm năng của chúng như những tác nhân tự nhiên có thể bảo vệ da khỏi lão hóa do ánh sáng.

                                                                                   Nguyễn Thị Nụ

ỨNG DỤNG NẤM AMF (NẤM RỄ CỘNG SINH ARBUSCULAR) VÀ PHÂN BÓN HỮU CƠ ĐỂ TĂNG CƯỜNG SỰ SINH TRƯỞNG, SINH KHỐI VÀ HÀM LƯỢNG HOẠT CHẤT SINH HỌC CỦA RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA)

Trisilawati Ovà cs.

 Trisilawati Ovà cs. 2019 IOP Conf. Ser.: Earth Environ. Sci. 292 012067

Rau má (Centella asiatica l. Urban) là một trong những cây thuốc có lợi cho sức khỏe. Sự phát triển của ngành công nghiệp thuốc thảo dược và thực phẩm chức năng đòi hỏi nguồn nguyên liệu thô chất lượng tốt, an toàn cho người tiêu dùng và được sản xuất liên tục. Nấm rễ cộng sinh (AMF - Arbuscular Mycorrhizal Fungi) là một loại phân bón sinh học tiềm năng được sử dụng rộng rãi trên cây trồng, giúp tăng sinh khối và hàm lượng hoạt chất sinh học. Phân bón hữu cơ là nguồn cung cấp dinh dưỡng có thể hoạt động hiệu quả hơn khi kết hợp với nấm rễ cộng sinh (AMF). Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tác động của việc xử lý bằng nấm AMF và phân bón hữu cơ đến sự sinh trưởng, năng suất sinh khối và hàm lượng asiaticosid của mẫu giống rau má Casi 016 trên đất núi lửa (andosol). Nghiên cứu được thực hiện trong sáu tháng, sử dụng thiết kế khối hoàn toàn ngẫu nhiên với hai yếu tố và ba lần lặp lại. Yếu tố đầu tiên là cấy nấm AMF, bao gồm hai công thức: có và không cấy nấm AMF . Yếu tố thứ hai là  bón phân hữu cơ, bao gồm: a). Đối chứng, b). Phân chuồng, c). Phân lân, d). Vỏ trấu hun, e). Phân chuồng + phân lân, f). Phân chuồng + vỏ trấu hun, g). Phân chuồng + phân lân + trấu hun. Các chỉ tiêu quan sát bao gồm sinh trưởng của cây, trọng lượng tươi và khô của lá, thân bò và rễ, hàm lượng asiaticosid và khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng N, P, K. Kết quả cho thấy việc xử lý bằng nấm AMF và phân bón hữu cơ có thể làm tăng các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh khối của rau má. Hơn nữa, nấm AMF có thể làm tăng hàm lượng asiaticosid trong lá từ 0,1% đến 0,6%. Sự kết hợp giữa nấm AMF và phân bón hữu cơ dẫn đến khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng N-P-K trên một hecta cao hơn.

Nguyễn Văn Dũng

ĐÁNH GIÁ ĐA ĐẠNG DI TRUYỀN CỦA RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA (L.) URB.) VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ LÊN  CÁC KIỂU HÓA HỌC VÀ KIỂU HÌNH CỦA CÂY RAU MÁ TẠI THÁI LAN

Puntitra Kamol và cs.

Industrial Crops and Products, 2024, 218,118976

Biến dị di truyền và thời vụ thu hoạch đều có tác động đến hàm lượng các hoạt chất sinh học trong cây rau má. Nghiên cứu này đã đánh giá ảnh hưởng của thời vụ đến kiểu hóa học và kiểu hình, đồng thời đánh giá sự đa dạng di truyền của các cây rau má được thu thập tại nhiều vùng của Thái Lan. Tổng số 25 mẫu giống rau má được trồng ở cùng một địa điểm tại tỉnh Nakhon Sawan và được thu hoạch vào mùa đông, mùa hè và mùa mưa. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi về hàm lượng triterpenoid ở các thời vụ thu hoạch khác nhau, hàm lượng tổng số của bốn triterpen cao nhất vào mùa hè (5,98% tính theo khối lượng khô (DW). Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy hàm lượng các thành phần hóa của cây (phenolic tổng số, flavonoid tổng số và triterpenoid tổng số) và chất chống oxy hóa có hàm lượng cao hơn vào mùa đông và mùa hè. Kiểu hình không bị ảnh hưởng bởi mùa, trong khi diện tích lá và chiều rộng lá có tương quan nghịch với hàm lượng triterpenoid. Dựa trên kiểu hóa học và kiểu hình, chúng tôi đề xuất hai mẫu giống ưu tú, bao gồm mẫu được thu thập tại Nakhon Prathom (NPT) và Nong Bua Lamphu (NBP), căn cứ vào hàm lượng centellosid cao và có kích thước lá to hơn. 25 mẫu giống rau má được đánh giá về đa dạng di truyền bằng chỉ thị DNA (chỉ thị ISSR, SCoT và SRAP), cho thấy mức độ đa dạng di truyền ở mức trung bình, bao gồm hai quần thể địa lý, không liên quan đến kiểu hóa học và kiểu hình. Những phát hiện của chúng tôi giúp nông dân tối ưu thời điểm thu hoạch, và kiểm soát hàm lượng centellosid, cho canh tác nông nghiệp thông minh trong tương lai, và những hiểu biết sâu sắc về đa dạng di truyền hỗ trợ cho chọn giống và cải tiến giống rau má cho ngành công nghiệp dược phẩm trong tương lai.

Trịnh Văn Vượng

TÍCH LŨY SINH KHỐI, CÁC HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC VÀ HẤP THỤ CHẤT DINH DƯỠNG CỦA CÂY RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA (L.)) LIÊN QUAN ĐẾN DINH DƯỠNG HỮU CƠ TRONG ĐIỀU KIỆN TRỒNG NGOÀI ĐỒNG VÀ DƯỚI BÓNG RÂM

S.P. Priyanka SP và cs.

Industrial Crops and Products. 2022; 176

Nghiên cứu kéo dài 3 năm tại Bengaluru, Ấn Độ đã đánh giá ảnh hưởng của kiểu gen và mức dinh dưỡng đến các chỉ số sử dụng tài nguyên trong hệ thống sản xuất rau má (Centella asiatica) ngoài đồng ruộng và trong điều kiện che bóng 50%, nhằm xây dựng quy trình canh tác hiệu quả về mặt kinh tế. Mô hình tích lũy sinh khối cho thấy có sự biến động theo từng năm trong cả hai điều kiện trồng ngoài đồng và che bóng 50%, tuy nhiên tổng sinh khối khô tích lũy được là tương đương nhau ở cả hai hệ thống sản xuất. Giống Arka Divya cho thấy hiệu suất sinh trưởng ổn định trong cả hai điều kiện canh tác (ngoài đồng và che bóng 50%), trong khi Arka Prabhavi thể hiện sinh trưởng tốt hơn trong điều kiện che bóng 50%. Các mức dinh dưỡng khác nhau tạo ra xu hướng tương tự về sinh khối khô tích lũy trong cả hai điều kiện canh tác. Tuy nhiên, tổng hàm lượng hợp chất sinh học được xác định cao hơn trong điều kiện ngoài đồng (141,2 kg/ha) so với điều kiện che bóng 50% (110,5 kg/ha) trong năm thứ hai. Tương tự, năng suất asiaticosid cao hơn 22% trong điều kiện ngoài đồng so với trong điều kiện che bóng 50%. Sự khác biệt về kiểu gen có ý nghĩa thống kê liên quan đến hàm lượng và năng suất các hợp chất sinh học trong cả hai điều kiện. Ở mức dinh dưỡng cao với phân chuồng hoai mục (FYM) 5 tấn + 125 kg N thông qua FYM, năng suất hợp chất sinh học cao hơn đáng kể trong điều kiện ngoài đồng (193,0 kg/ha) so với điều kiện che bóng 50% (165,6 kg/ha). Tuy nhiên, khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng đa lượng lại cao hơn đáng kể trong điều kiện che bóng 50% so với ngoài đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy rau má có thể được trồng hiệu quả cả trong điều kiện nắng hoàn toàn và che bóng 50% nếu được cung cấp dinh dưỡng tối ưu, nhưng canh tác ngoài đồng vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Nguyễn Bá Hưng, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Thị Hương

SẢN XUẤT CENTELLOSIDES BẰNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ VI SINH VẬT NỘI SINH Ở RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA)

Sujata Mandalvà cs

Appl Microbiol Biotechnol. 2023 Feb;107(2-3):473-489

Nuôi cấy tế bào, mô và cơ quan thực vật in vitro là một chiến lược công nghệ sinh học tuyệt vời , thân thiện với môi trường để sản xuất các hợp chất hóa học thực vật. Với sự xuất hiện của các công cụ công nghệ sinh học gần đây, kỹ thuật di truyền hiện đang được áp dụng rộng rãi, giúp nâng cao chất lượng và số lượng các chất chuyển hóa thực vật. Các saponin triterpenoid, đặc biệt là asiaticosid và madecassosid của rau má (Centella asiatica (L.) Urb.), được biết đến rộng rãi nhờ hoạt tính bảo vệ thần kinh. Việc tăng sản xuất asiaticosid và madecassosid đã trở nên cần thiết do nhu cầu dược phẩm và công nghiệp cao. Do đó, bài tổng quan này nhằm mục đích cung cấp các công cụ công nghệ sinh học hiệu quả cùng với các chiến lược phù hợp. Bài tổng quan này cũng bao gồm phân tích so sánh các nguồn carbon khác nhau và các chất kích thích sinh học và phi sinh học. Vai trò quan trọng của nhiều chất điều hòa sinh trưởng thực vật và sự kết hợp của chúng cũng đã được đánh giá ở các giai đoạn sinh trưởng in vitro khác nhau của rau má (Centella asiatica). Nghiên cứu này cũng làm nổi bật việc lựa chọn mẫu cấy, quá trình hình thành cơ quan trực tiếp và qua mô sẹo, quá trình hình thành cơ quan rễ, quá trình hình thành phôi soma, sản xuất hạt tổng hợp, v.v. Tóm lại, bài tổng quan này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu của các biện pháp can thiệp công nghệ sinh học khác nhau được sử dụng để tăng sản lượng saponin triterpenoid trong rau má (C. asiatica).

                                                                     Nguyễn Thị Nụ

HÀM LƯỢNG CENTELLOSID TRONG CÂY RAU MÁ TRỒNG (CENTELLA ASIATICA) KHI BÓN PHÂN LÂN

Vinolina NS

Journal of Physics: Conference Series. 2018. 1116 052072

Cây rau má là một trong những loại cây hoang dại bị khai thác quá mức trong tự nhiên, Mục tiêu của nghiên cứu này là thu được vật liệu cây tiềm năng được sử dụng như là hạt giống và có centellosid cao và thu được cây có phản ứng với sinh khối và sản xuất  centellosid trên cơ sở ứng dụng  phân lân. Nghiên cứu này đã  tiến hành tại vườn thực nghiệm được  thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh một nhân tố, với 6  mức P2O5 khác nhau (0, 10,  20, 30, 40, 50 kg P2O5/ha) với 5 lần nhắc lại để xác định ảnh hưởng đối với hàm lượng centellosid, việc thu hoạch được diễn ra 84 ngày sau trồng. Nếu một công thức cho ra kết quả có ảnh hưởng rõ rệt nó sẽ tiếp tục được kiểm tra DMRT. Vật liệu trồng là giống rau má Deli Serdang. Những nghiên cứu trước đó đã tìm ra sự thay đổi của centellosid (asiaticosid, madecassosid and axit asiatic ) ảnh hưởng bởi điều kiện của môi trường đất và lượng P trong đó. Kết quả chỉ ra rằng ở vùng đất thấp Bắc Sumatra, lượng phân P không tạo ra ảnh hưởng rõ rệt đối với sinh trưởng sinh khối của cây rau má nhưng lại tạo ra khác biệt rõ rệt đối với cấu trúc centellosid. Công thức bón phân P 50kg/ha đã cho  hàm lượng asiricosid cao nhất trong lá.

Nguyễn Xuân Khánh

BỆNH ĐỐM LÁ CERCOSPORA TRÊN CÂY RAU MÁ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN THÀNH PHẦN DƯỢC PHẨM

Thaygarthi Ramappa Parashurama và cs.

International Journal of Biological & Pharmaceutical Research. 2013; 4(1): 64-71

Cây rau má là một loài thảo dược quan trọng. Các nghiên cứu đã được tiến hành nhằm xác định tác nhân gây bệnh đốm lá trên cây rau má tại khu bảo tồn động vật hoang rã Bhadra  trong khoảng thời gian từ 2006-2009. Tỷ lệ mắc bệnh trên lá, mức độ nghiêm trọng và mô hình phân bố bệnh tại 8 vùng rừng trong khu bảo tồn đã được ghi nhận. Nghiên cứu cũng đánh giá tác động của nhiễm bệnh trên lá đến hàm lượng các hợp chất thứ cấp trong cây. Kết quả cho thấy Cercospora centellae là tác nhân chính gây ra bệnh đốm lá trong khu vực. Những chỉ số về tỉ lệ bệnh và mức độ nghiêm trọng trở nên cao tại rừng Madla trong khoảng thời gian tháng 9-10. Bệnh xuất hiện đồng đều trong cả khu vực nghiên cứu. Hàm lượng các alkaloid và steroid bị suy giảm do sự gia tăng lây nhiễm của bệnh đốm lá do C. centellae, trong khi hàm lượng các phenol và flavonoid lại gia tăng. Nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh đốm lá gây bởi C. centellae trên cây rau má có thể  làm suy giảm đáng kể các dược chất quan trọng như các alkaloid và steroid.

Nguyễn Xuân Khánh

PHÁT TRIỂN NUÔI CẤY RỄ TƠ ĐỂ SẢN XUẤT SINH KHỐI VÀ TRITERPENOID Ở CÂY RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA)

Seungeun Baek và cs.

Plants (Basel),  2022, 11(2),148

Rau má (họ Apiaceae) là một loại cây thuốc nhiệt đới/cận nhiệt đới, chứa nhiều loại triterpenoid, bao gồm madecassosid, asiaticosid, axit madecassic và axit asiatic. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thử nghiệm hiệu quả nuôi tạo rễ tơ (HR) từ mẫu cấy lá và cuống lá cây rau má. Lá và cuống lá thu thập từ cây rau má được ngâm trong môi trường agro-stock trong 30 phút và nuôi cấy đồng thời với Agrobacterium rhizogenes trong 3 ngày để cảm ứng hình thành rễ tơ (HR). Hiệu suất cấy chuyển của mẫu cấy lá và cuống lá lần lượt là khoảng 27% và 12%. Tổng cộng 36 dòng HR đã được xác định bằng phương pháp khuếch đại gen rol dựa trên PCR, và 8 trong số các dòng này đã được chọn để phân tích sâu hơn. Trong số 8 dòng rễ tơ được chọn, các dòng có nguồn gốc từ cuống lá HP4 và HP2 cho thấy chỉ số tăng trưởng cao nhất (37,8) và nồng độ triterpenoid cao nhất (46,57 mg/g). Mặc dù hàm lượng triterpenoid trong lá cao hơn gấp hơn 2 lần so với cuống lá của cây rau má, nhưng sự tích lũy triterpenoid trong các mẫu nuôi cấy rễ tơ có nguồn gốc từ cuống lá cao hơn 1,4 lần so với các mẫu nuôi cấy có nguồn gốc từ lá. Ngoài ra, trong nuôi cấy rễ tơ có nguồn gốc từ lá và cuống lá, sản lượng terpenoid cao hơn trong rễ tơ so với rễ bất định. Những kết quả này cho thấy hàm lượng triterpenoid trong mẫu cấy ban đầu không ảnh hưởng đến hàm lượng triterpenoid trong rễ tơ thu được. Nuôi cấy rễ tơ của cây rau má có thể được mở rộng quy mô để sản xuất hàng loạt triterpenoid trong các thiết bị phản ứng sinh học khép kín (bioreactor) cho ngành công nghiệp dược phẩm và mỹ phẩm.

Trịnh Văn Vượng

ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN CÓ LỢI BACILLUS SUBTILIS ĐỐI VỚI SỰ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA)

Mardhati Hazira H và cs

 BIOSCIENCE RESEARCH, 2017 14(4): 1074-1079

Một nghiên cứu được tiến hành để tìm hiểu về ảnh hưởng của lợi khuẩn (Bacillus subtilis) khi kết hợp với phân xanh NPK đối với sự phát triển của cây rau má (Centella asiatica). Sáu công thức thí nghiệm được thiết kế: 1) không sử dụng cả lợi khuẩn và phân NPK (công thức đối chứng), 2) 10g/L chế phẩm vi sinh, 3) phân NPK, 4) kết hợp phân NPK và 8g/L chế phẩm vi sinh, 5) kết hợp phân NPK và 10 g/L chế phẩm vi sinh, 6) kết hợp phân NPK và 12 g/L chế phẩm vi sinh. Nồng độ N và P trong lá, cuống lá và rễ gia tăng khi kết hợp giữa chế phẩm vi sinh có chứa lợi khuẩn và phân NPK được bón vào đất. Tượng tự, khối lượng tươi, chiều dài rễ và thể tích rễ cũng được ghi nhận cao hơn vượt trội so với công thức đối chứng. Việc sử dụng chế phẩm vi sinh ngay cả khi kết hợp hoặc không kết hợp với phân NPK đều có tiềm năng thúc đẩy sự ổn định trong việc canh tác cây rau má. Hiệu quả của các công thức có hiệu quả tốt nhất được ghi nhận  theo thứ tự : (T6) phân NPK kết hợp với 12g/L chế phẩm vi sinh > (T5) phân NPK kết hợp với 10g/L chế phẩm vi sinh > (T4) phân NPK kết hợp với 8g/L > (T3) chỉ phân NPK> (T2) chỉ 10g/L chế phẩm vi sinh > (T1) không có cả phân NPK và chế phẩm vi sinh.

Nguyễn Xuân Khánh

NGHIÊN CỨU SO SÁNH: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẾ PHẨM SINH HỌC ĐỐI VỚI SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY RAU MÁ ĐƯỢC TRỒNG TRONG HỆ THỐNG THỦY CANH VÀ ĐỒNG RUỘNG

Suheba Belwadi và cs.

Asian J Biol Life Sci., 2025; 14(1): 161-167.

Rau má là loại cây thảo dược hằng năm thuộc họ Hoa tán có nhu cầu được sử dụng nhiều  trong y dược học cổ truyền Ấn Độ (Ayurveda) để điều trị bệnh. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học như Kunap Jala (được đề cập trong canh tác hữu cơ truyền thống (Vrukshayurveda) và chế phẩm dạng nước Vermi (Vermiwash) đối với đặc điểm sinh trưởng và năng suất của cây rau má được trồng trên đồng ruộng so sánh với phương pháp thủy canh.

Vật liệu và phương pháp: Nghiên cứu bao gồm 2 nhóm rau má được trồng trên đồng ruộng và thủy canh. Mỗi nhóm được chia thành 2 nhóm nhỏ, mỗi nhóm 40 mẫu, với từng nhóm được sử dụng chế phẩm sinh học Kunap Jala và Vermi. Quy trình  canh tác tiêu chuẩn được áp dụng cho nhóm thí nghiệm đồng ruộng. Đối với nhóm trồng thủy canh,   hệ thống kĩ thuật film dinh dưỡng được thiết lập bằng môi trường  dinh dưỡng , độ pH được duy trì ở mức trung tính và tổng chất hòa tan duy trì giữa 1000-1200 ppm. Kết quả: Phân tích thống kê sinh học cho thấy loại phân Kunap Jala cho hàm lượng dinh dưỡng cao hơn Vermiwash. So sánh giữa hai phương pháp canh tác, nhóm trồng trên đồng ruộng cho năng suất cao hơn; đặc biệt, xử lý bằng phân Kunap Jala mang lại kết quả vượt trội so với Vermiwash. Kết luận: Cả hai nhóm trồng trên đồng ruộng và thủy canh sử dụng loại phân Kunap Jala đều cho kết quả tốt hơn so với Vermi do nồng độ dinh dưỡng của Kunap Jala cao hơn. Hệ thống canh tác trên đồng ruộng cho kết quả tốt hơn hệ thống canh tác thủy sinh.

Nguyễn Xuân Khánh

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP SẤY KHÁC NHAU ĐẾN ĐẶC TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA LÁ RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA)

Abdul Rahim MSA và CS

IOP Conf. Series: Earth and Environmental Science 756 (2021).

Rau má (Centella asiatica) là một trong những nguồn thực vật quan trọng có đặc tính chống oxy hóa, được sử dụng cho mục đích thực phẩm hoặc làm thuốc. Nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của ba phương pháp sấy khác nhau (sấy thăng hoa, sấy bằng lò và sấy khử nước) đến khả năng chống oxy hóa của lá rau má.

Các đặc tính chống oxy hóa và giá trị IC50 ở các nồng độ khác nhau của dung dịch chiết methanol (0,5 mg/ml; 0,25 mg/ml; 0,125 mg/ml và 0,062 mg/ml) được đánh giá bằng phương pháp thử DPPH (2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl). Điều kiện và thời gian sấy tương ứng của ba phương pháp là: sấy thăng hoa ở -45°C trong 3 ngày, sấy bằng lò ở 60°C trong 5 giờ, và sấy khử nước ở 35–43°C trong vòng 1–3 giờ.

Mẫu có giá trị IC50 thấp hơn thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh hơn, vì IC50 thấp đồng nghĩa với hiệu quả trung hòa gốc tự do cao. Mẫu rau má được sấy thăng hoa ở nồng độ 0,05 mg/ml cho thấy hoạt tính bắt gốc tự do cao nhất (93,97 ± 0,45%) với giá trị IC50 thấp nhất (0,05 mg/ml), trong khi mẫu được sấy khô ở nhiệt độ thường ở cùng nồng độ lại thể hiện hoạt tính thấp nhất (55,08 ± 0,03%) với giá trị IC50 cao nhất (0,36 mg/ml).

Điều này cho thấy khi nồng độ hoạt chất tăng, khả năng trung hòa gốc tự do cũng tăng. Do đó, sấy thăng hoa được khuyến nghị là phương pháp tốt nhất để bảo toàn tối đa hàm lượng chất chống oxy hóa trong lá rau má.

Cù Thị Hằng

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC KỸ THUẬT SẤY ĐẾN ĐẶC TÍNH HÓA THỰC VẬT CỦA RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA) VÀ ỨNG DỤNG TRONG VIỆC CHẾ BIẾN SỮA CHUA THẢO DƯỢC

Ansu Sara Eapen và CS

Food and Humanity, December 2024., 3, 100438

Nghiên cứu này khảo sát các kỹ thuật sấy mới áp dụng cho rau má (Centella asiatica) và ảnh hưởng của chúng đến thành phần hóa thực vật. Cụ thể, nghiên cứu tập trung vào việc ứng dụng hai phương pháp sấy là sấy thăng hoa và sấy bằng cửa sổ khúc xạ (refractance window drying) đối với rau má. Phương pháp sấy thăng hoa được thực hiện ở nhiệt độ −24 °C trong 42 giờ, trong khi phương pháp sấy cửa sổ khúc xạ được tiến hành ở ba mức nhiệt độ khác nhau: 70 °C, 80 °C và 90 °C.

Kết quả tối ưu thu được từ mẫu sấy bằng phương pháp cửa sổ khúc xạ ở 90°C (mẫu RW90), dựa trên phân tích hóa thực vật và sinh học. Mẫu này thể hiện khả năng chống oxy hóa đáng kể (58,575 %), hàm lượng polyphenol tổng số (53,911 mg GAE/g), hàm lượng flavonoid tổng số (57,686 mg QE/g) và hoạt tính ức chế enzym α-amylase (23,05 %). Ngoài ra, vùng ức chế đối với hoạt tính kháng khuẩn được ghi nhận lần lượt là 6,35 mm đối với Escherichia coli và 10,4 mm đối với Bacillus cereus.

Sau đó, mẫu sấy RW 90 được bổ sung vào sữa chua ở các nồng độ 1 %, 2 % và 5 %. Phân tích cảm quan cho thấy mẫu có nồng độ 2 % đạt điểm trung bình cao nhất về mức độ chấp nhận tổng thể (8,7), trong khi phân tích hóa học cho thấy các giá trị tối ưu được ghi nhận ở mẫu 5 %.

Những phát hiện này cho thấy tiềm năng của các kỹ thuật sấy mới trong việc bảo tồn các hợp chất hóa thực vật của rau má và nâng cao khả năng ứng dụng của nó trong nhiều lĩnh vực, bao gồm thực phẩm chức năng và chế phẩm thảo dược.

Cù Thị Hằng

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BÓN PHÂN TỔNG HỢP ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA (L) URB.)

Anjana devkota và cs.

Tropical ecology 54(1): 89-95, 2013

Rau má (Centella asiatica) là một loài cây thuốc dân tộc quan trọng. Nghiên cứu này đã khảo sát tác động của việc bón phân tổng hợp lên sự sinh trưởng của rau má, sử dụng các dòng vô tính  từ Kirtipur, Kathmandu. Các cây con được trồng trong chậu đất chứa đất và phân bón theo các phương pháp sau: Bón phân tổng hợp, Tỷ lệ Ure : Phân chuồng (FYM) lần lượt là: 75:25, 50:50, và 25:75. Bón phân đơn lẻ: 100% Ure và 100% Phân chuồng (FYM). Đối chứng: Không bón phân. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên và mỗi công thức có 40 cây. CChúng tôi đã kiểm tra số lá trên mỗi cây, chiều dài cuống lá, diện tích lá, số nhánh chính, số hoa trên mỗi cây và sinh khối của cây. Số lá, diện tích lá và số hoa trên mỗi cây ở nhóm bón phân tổng hợp cao hơn đáng kể so với các nhóm khác. Sản lượng sinh khối ở nhóm bón phân tổng hợp (50% Ure và 50% FYM) cao hơn bảy lần so với nhóm đối chứng; Sản lượng sinh khối này cũng cao hơn năm lần so với nhóm chỉ bón phân hữu cơ (100% FYM) và cao hơn 1,5 lần so với nhóm chỉ bón phân vô cơ (100% Ure).

Nguyễn Văn Dũng

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LỎNG HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA RAU MÁ (Centella asiatica (L.)) VÀ ỚT CHUÔNG (Capsicum annuum (L.) VAR. annuum)

Ekanayake và cs.

 International Journal of Tropical Agricultural Research & Extension. 2020; 23 (3 & 4)

Nghiên cứu hiện tại được thực hiện để tìm ra tác động của phân hữu cơ dạng lỏng và phân vô cơ tổng hợp đến sự sinh trưởng và năng suất của rau má (Centella asiatica (l.)) và ớt xanh (Capsicum annuum (l.) var. annuum (ớt xanh). Hai thí nghiệm được thiết kế theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với sáu lần lặp lại cho mỗi loài thực vật trong nhà kính tại khoa Nông nghiệp, trường đại học Ruhuna. Thí nghiệm được xử lý bằng bốn loại phân hữu cơ dạng lỏng (dịch trùn quế, nước ngâm cá, jeevamruta và dịch ủ phân) cùng với dung dịch Albert's (phân bón lỏng tổng hợp). Ở cây rau má (C. asiatica), các chỉ tiêu sinh trưởng gồm: số lá, khối lượng lá tươi và khô, chiều dài cuống lá, khối lượng rễ tươi và khô. Trong khi đó, ở ớt (C. annuum), các thông số ghi nhận là: chiều cao cây, chu vi thân, số quả và khối lượng quả tươi.Kết quả cho thấy: Đối với rau má, các loại phân (trừ vermiwash) cho kết quả tương đương về các chỉ tiêu sinh trưởng (số lá, khối lượng rễ và lá). Dịch trùn quế cho các chỉ tiêu sinh trưởng kém hơn. .

Ở ớt: Albert’s solution giúp cây cao hơn, thân to hơn; nhưng dịch chiết cá cho số lượng quả và khối lượng quả cao nhất. . Chiều cao cây tốt hơn ở cây được xử lý bằng dung dịch Albert's khi ra hoa.

Phân bón hữu cơ dạng lỏng, đặc biệt là  dịch chiết cá, có thể thay thế phân vô cơ để cải thiện sinh trưởng của rau má và tăng năng suất ớt..

Nguyễn Văn Dũng

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ DẠNG LỎNG BÓN QUA LÁ VÀ BÓN VÀO ĐẤT ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY MỒNG TƠI (BASELLA ALBA L.) VÀ RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA L.).

 Ranasinghe RHAA và cs.

The Journal of Agricultural Sciences - Sri Lanka, September 2021,16 (3):393-409. http://doi.org/10.4038/jas.v16i03.9466

Mục đích: Phân bón hữu cơ thân thiện với môi trường giúp giảm thiểu các tác động bất lợi của phân bón hóa học. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích tạo ra các loại phân bón lỏng hữu cơ từ một số nguyên liệu thực vật được chọn như cúc quỳ (Tithonia diversifolia), dây tràng quả (mikania scandens), cây cộng sản (Chromolaena odorata) và cây muồng (Gliricidia sepium) cùng với một số loại rác thải hữu cơ. Mục tiêu là so sánh hiệu quả của phương pháp bón lá và bón đất đối với sự sinh trưởng của các loại rau ăn lá như mồng tơi (Basella alba) và rau má (Centella asiatica).

Phương pháp nghiên cứu: các nguyên liệu thực vật phế thải cá và c thủy phân với đu đủ đã được ủ hoai trong hai tháng. (tỷ lệ 1:1 theo khối lượng) đã được phân tích. Sau đó, các hỗn hợp này được trộn lại và phân tích hàm lượng dinh dưỡng. Thí nghiệm chậu bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), bón phân bằng hai cách: tưới đất và phun lá. .  

Kêt quả: Phân bón được tạo ra từ hỗn hợp thực vật ủ hoai + rác cá được thủy phân với đu đủ cho thấy hàm lượng N (0,57%) và P (0,06%) cao nhất, đồng thời cũng mang lại sự sinh trưởng tốt nhất cho cả rau má và mồng tơi ở cả hai phương pháp bón lá và bón đất. Tiếp theo là loại phân bón được tạo ra từ hỗn hợp thực vật ủ hoai + rác cá được thủy phân với hỗn hợp đu đủ và dứa. Đối với cây mồng tơi, phương pháp bón lá cho thấy sự sinh trưởng vượt trội hơn so với phương pháp bón đất về: chiều cao chồi (36,6±3,4 cm so với 30,0±1,5 cm), số lá trên mỗi cây (21,7±1,4 so với 17,5±0,8) và khối lượng tươi của cây (61,5±1,8 g so với 55,6±0,9 g). Ngược lại, đối với cây rau má, không có sự khác biệt đáng kể giữa hai phương pháp bón phân này. Hạn chế của nghiên cứu: thí nghiệm được thực hiện trong chậu để đảm bảo điều kiện đất đồng nhất, đây là hạn chế chính so với các thử nghiệm ngoài đồng. Tính độc đáo/giá trị: các loại phân bón mới được tạo ra này có thể được sử dụng hiệu quả trong canh tác hữu cơ để sản xuất các loại rau ăn lá an toàn và tốt cho sức khỏe, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của phân bón hóa học.

Nguyễn Văn Dũng

ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP SẤY BƠM NHIỆT ĐỐI VỚI HÀM LƯỢNG SAPONIN TRONG BỘT CỦ RAU MÁ ĐƯỢC TRỒNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỦY CANH

Vuong BT và CS

Afr. J. Food Agric. Nutr. Dev. 2024; 25(2): 25846-25860

Việc đối phó với khủng hoảng lương thực toàn cầu, biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường đòi hỏi sự phát triển cấp thiết và lâu dài của các hệ thống thực phẩm bền vững. Phương pháp thủy canh là một giải pháp tiềm năng đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng, và đã được áp dụng để trồng các loại rau má. Cây rau má, là một loại dược liệu truyền thống được sử dụng rộng rãi tại khu vực Đông Nam Á. Cây chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như triterpenoid, flavonoid và alkaloid – các hợp chất có đặc tính kháng khuẩn, chống oxy hóa, hỗ trợ lành vết thương, cải thiện trí nhớ và có tiềm năng trong điều trị các bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư và bệnh phụ khoa. Cây rau má chứa hàm lượng cao các saponin thuộc nhóm triterpenoid, chủ yếu gồm asiaticosid, madecassosid, centellosid và sceffoleosid – thường được gọi chung là centelloid. Các saponin này là thành phần đóng vai trò chính trong hoạt tính sinh học của rau má, khiến loại cây này trở thành nguồn nguyên liệu dược liệu quý giá với đặc tính dược học đặc trưng. Việc tận dụng phụ phẩm từ quá trình sản xuất rau má thủy canh để phát triển các sản phẩm có giá trị sinh học sẽ đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của hệ thống thực phẩm toàn cầu. Sấy bơm nhiệt khô là một công nghệ hiệu quả cao và thân thiện với môi trường, hoạt động dựa trên nguyên lý nhiệt động lực học, giúp kiểm soát nhiệt độ chính xác thông qua quá trình trao đổi nhiệt giữa các môi trường. Công nghệ này giúp giảm thiểu tổn thất hoạt chất sinh học, duy trì giá trị dinh dưỡng, đồng thời bảo tồn các đặc tính cảm quan như màu sắc và hương vị. Ngoài ra, sấy bơm nhiệt còn tiêu thụ ít năng lượng và cải thiện đáng kể khả năng bảo quản sản phẩm khô. Tuy vậy, nhược điểm của công nghệ này là chi phí đầu tư ban đầu và bảo trì cao, cùng với dải nhiệt độ vận hành hạn chế tùy thuộc vào nguyên liệu. Trong nghiên cứu này, các củ rau má trồng thủy canh được thu hoạch sau 6 tháng và đạt hàm lượng saponin cao nhất là 3,17%. Các củ này sau đó được xử lý bằng phương pháp sấy bơm nhiệt, nghiền mịn và rây. Ở điều kiện sấy 60°C trong 420 phút, bột củ rau má thu được có hàm lượng saponin cao là 6,30% cùng hoạt tính chống oxy hóa đáng kể, được thể hiện qua giá trị IC50 là 8,13 mg/mL.

Nguyễn Xuân Khánh

ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ STRESS MẶN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG CHLOROPHYLL Ở CÂY RAU MÁ

Esita Karmaker và cs.

Archives of Agriculture and Environmental Science 9(2): 324-328 (2024)

Độ mặn cao làm cản trở sự hấp thụ chất dinh dưỡng, chuyển hóa và làm gia tăng độ mẫn cảm với các bất ổn sinh học. Điều này làm giảm khả năng sử dụng dưỡng chất, dẫn đến chậm sinh trưởng và năng suất thấp ở cây. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của cây rau má dưới các mức độ stress mặn khác nhau. Nghiên cứu được tiến hành ở Trung tâm Bảo tồn Nguồn gen, Khoa Khoa học Cây trồng, Đại học Khoa học và Công nghệ Patuakhali. Thiết kế khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại được áp dụng, trong đó 5 nồng độ muối 0 mM, 50 mM, 100 mM, 150 mM và 200 mM được xử lý trên 20 chậu. Dữ liệu sinh trưởng và năng suất được thu thập trong 4 mốc thời gian: 21, 42, 63 và 84 ngày sau trồng. Kết quả cho thấy các chỉ số tốt nhất được ghi nhận ở giống đối chứng (2,34mM) bao gồm số lá 285,5, số thân bò 126,75, chiều dài cuống lá 9,38 cm, hàm lượng chlorophyll 41,62SPAD, khối lượng tươi của lá 23,92g, khối lượng khô của lá 7,97g, khối lượng tươi của chồi 1,84g và khối lượng khô của chồi 1,84g tại mức 84 DAT. Ở một khía cạnh khác, khối lượng tươi và khô của rễ đạt mức cao nhất ở nồng độ muối 150mM với các giá trị lần lượt là 1,95g và 0,65g. Nghiên cứu chỉ ra khi độ mặn tăng, các chỉ tiêu sinh trưởng giảm dần, chứng tỏ ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến năng suất của cây rau má. Những khám phá này nhấn mạnh độ nhạy cảm của rau má với stress mặn và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát độ mặn để đảm bảo cây sinh trưởng và năng suất tối đa.

Nguyễn Xuân Khánh

 SINH TRƯỞNG VÀ SẢN XUẤT HỢP CHẤT THỨ CẤP CỦA CÂY RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA (L.) URB.) ĐƯỢC TRỒNG VỚI CÁC MỨC BÓN LÂN KHÁC NHAU TRÊN ĐẤT CHUA

 Noverita Sprinse Vinolina và cs.

 Trends in Sciences 2022; 19(18):   5820

 Rau má là một loại cây thuốc được biết đến rộng rãi với nhiều ứng dụng trong điều trị các bệnh về da liễu và các vấn đề sức khỏe khác.  Nhu cầu đối với các chiết xuất từ rau má ngày càng tăng, tuy nhiên nguồn cung đang suy giảm rõ rệt do khai thác quá mức và diện tích canh tác còn hạn chế. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ bón phosphat khác nhau đến sự tăng trưởng và sản xuất chất chuyển hóa thứ cấp của cây rau má  trên đất chua ở Indonesia. Độ pH của đất được sử dụng trong nghiên cứu này là 2,76. Bón các lượng phosphat khác nhau (0, 20, 40, 60, 80 và 100 kg/ha). Kết quả chỉ ra rằng bón 40 kg phosphat/ha cho thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng lá, chiều dài cuống lá, tổng diện tích lá và số lượng tua cuốn, thân bò, từ đó làm tăng sinh khối của cây rau má. Cây rau má  có khả năng sản sinh ra nhiều loại hợp chất chuyển hóa thứ cấp, bao gồm asiaticosid, madecassosid, axit asiatic, saponin, tannin, phenolic, flavonoid, triterpenoid, steroid và glycosid. Việc bón 20 kg/ha phosphat có thể tối ưu hóa quá trình sản xuất các hợp chất này. Do đó, có thể kết luận rằng việc bón liều lượng phosphat thấp có thể thúc đẩy sự sinh trưởng và sản xuất các hợp chất chuyển hóa thứ cấp của rau má trồng trên đất chua.

Phan Thị Lâm, Nguyễn Bá Hưng

XÁC ĐỊNH CÁC KHU VỰC TRỒNG TRỌT TIỀM NĂNG CHO CÁC KIỂU HÓA HỌC ƯU TÚ ĐẶC HIỆU CENTELLOSIDE CỦA RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA (L.)) BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH HÓA HỐC SINH THÁI

Satyendra Pratap Singh và cs.

Industrial Crops and Products. 2022; Part A, 115657

Rau má được sử dụng trong điều trị các rối loạn thần kinh - tâm thần, các vấn đề tiêu hóa, và chữa lành vết thương trong hệ thống y học Ayurveda. Loài cây này nổi tiếng với hàm lượng cao các hợp chất triterpenoid nhóm centellosid, vốn được sử dụng rộng rãi trong sản xuất dược phẩm và mỹ phẩm. Việc xác định các kiểu hóa học (chemotype) ưu tú dựa trên hàm lượng các chất chỉ thị sinh học, đặc trưng hóa điều kiện khí hậu phù hợp, và khoanh vùng các khu vực tiềm năng để trồng giống có hàm lượng hoạt chất cao là rất cần thiết để thúc đẩy canh tác thương mại quy mô lớn rau má theo hướng định hướng hợp chất hoạt tính sinh học. Chúng tôi đã tiến hành định lượng bốn hợp chất hoạt tính gồm: madecassosid, asiaticosid, madecassic acid và asiatic acid trong 109 mẫu rau má được thu thập từ các vùng địa lý - thực vật khác nhau ở Ấn Độ bằng phương pháp HPTLC (Sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao). Mô hình hóa hốc sinh thái (ENM) được sử dụng để xác định các yếu tố khí hậu chính liên quan đến hàm lượng cao của các chất chuyển hóa thứ cấp, đồng thời dự đoán các vùng trồng tiềm năng nơi có khả năng cho hàm lượng hoạt chất cao nhất đối với từng chemotype đặc thù. Hàm lượng các hợp chất hoạt tính dao động như sau: Asiatic acid: 0,02–3,2 %, Madecassic acid: 0,02–3,06 %, Asiaticoside: 0,018–4,3 %, Madecassoside: 0,01–4,8 %. Nhiều mẫu từ khu vực Western Ghats và cao nguyên Deccan được xác định là các chemotype ưu tú, có hàm lượng centelloside cao. Kết quả mô hình hóa riêng biệt cho từng hợp chất chỉ ra rằng biên độ nhiệt độ hàng năm, lượng mưa hàng năm, lượng mưa trong tháng ẩm nhất, tính mùa vụ của lượng mưa, và lượng mưa trong quý lạnh nhất là những yếu tố khí hậu chi phối hàm lượng centelloside cao. Các khu vực có điều kiện khí hậu tối ưu để sản xuất bốn hợp chất trên chủ yếu nằm ở Western Ghats, Đông Bắc Ấn Độ, Himalaya phía Đông và Himalaya phía Tây. Những khu vực này, được xác định qua mô hình ENM, nên được ưu tiên cho canh tác thương mại các giống rau má có hàm lượng hợp chất sinh học đặc thù cao. Quy trình được xây dựng trong nghiên cứu này không chỉ hỗ trợ đảm bảo nguồn nguyên liệu thô chất lượng cao (QRM) và giống cây trồng chất lượng cao (QPM) một cách bền vững cho ngành công nghiệp rau má, mà còn có thể được áp dụng cho các loài cây dược liệu khác.

Nguyễn Bá Hưng

 

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ TƯỚI ĐẾN CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH LÝ, SINH HÓA VÀ HÀM LƯỢNG CENTELLOSIDE TRONG CÂY RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA)

Cattarin Theerawitaya và cs.

Irrigation Science. 2023; 41(1):23 – 34

Rau má Ấn Độ (Centella asiatica (L.) Urban) là một loại thảo dược quan trọng với nhiều giá trị y học. Việc tưới tiêu bằng nguồn nước ngọt tối ưu là một yêu cầu cơ bản để cây sinh trưởng, phát triển, và tích lũy các hợp chất thứ cấp. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của các chế độ tưới khác nhau đến phản ứng hình thái, sinh lý và sinh hóa của cây, cũng như hàm lượng centelloside tổng số. Chỉ số xanh lá (SPAD), hiệu suất lượng tử tối đa của hệ quang hợp II (Fv/Fm), và hiệu suất lượng tử thực tế của PSII (ΦPSII) ở cây được trồng dưới điều kiện tưới ở mức 64% dung tích đồng ruộng (FC) bị giảm đáng kể lần lượt 31,60%, 7,65% và 25,91% so với cây được tưới đầy đủ (đối chứng; 100% FC). Đáng chú ý, tốc độ quang hợp thuần (Pn), độ dẫn khí của khí khổng (gs), và tốc độ thoát hơi nước (Tr) ở cây trồng dưới điều kiện 64% FC rất nhạy cảm với tình trạng thiếu nước, dẫn đến mức giảm lần lượt là 68,76%, 87,50% và 84,08% so với đối chứng. Nhiệt độ lá (Tleaf) và chỉ số stress nước của cây (CWSI) dưới điều kiện tưới hạn chế (64% FC) lần lượt tăng thêm +3,97 °C và 0,72 so với đối chứng, tương ứng với sự giảm Tr (0,43 mmol H₂O m⁻² s⁻¹) và sự thay đổi chức năng khí khổng thể hiện qua độ dẫn khí thấp (gs = 0,02 mmol H₂O m⁻² s⁻¹). Sự gia tăng glucose (gấp 2,70 lần đối chứng), fructose (2,14 lần) và tổng lượng đường hòa tan (2,52 lần) đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh thẩm thấu khi cây được tưới ở mức trung bình (75% FC). Số lá xanh, diện tích lá, chiều dài thân bò và khối lượng tươi phần trên mặt đất ở cây tưới trung bình (75% FC) lần lượt tăng 1,23; 1,24; 1,13 và 1,15 lần so với đối chứng. Thông tin cơ bản thu được từ nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn phản ứng sinh lý và sinh hóa của rau má Ấn Độ trong điều kiện tưới hạn chế và gợi ý một phương pháp thay thế để điều chỉnh sinh khối cũng như năng suất centellosid bằng  áp dụng chế độ tưới ở mức trung bình (75% FC).

Nguyễn Bá Hưng

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ SINH THÁI ĐẾN HÀM LƯỢNG ASIATICOSID VÀ MADECASSOSID CŨNG NHƯ NĂNG SUẤT SINH KHỐI Ở CENTELLA ASIATICA TỪ MÔI TRƯỜNG SỐNG TỰ NHIÊN Ở NAM ẤN ĐỘ

Renju Kunjumon và cs.

Industrial Crops and Products, 2022,189, 115809

Centella asiatica (L.) Urban (CA) được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền, chăm sóc da, công nghiệp dược phẩm và như một loại rau ăn lá. Ấn Độ và Madagascar là những nước sản xuất  chính. Do nhu cầu ngày càng tăng, CA được thu thập với tốc độ không kiểm soát từ môi trường sống tự nhiên, và điều này dẫn đến sự phá hủy các kiểu gen hoang dã của loài. Ở đây, chúng tôi báo cáo việc sàng lọc 106 mẫu CA được thu thập từ môi trường sống tự nhiên trong một khu vực địa lý rộng lớn ở miền nam Ấn Độ để xác định hàm lượng ASI và MAD bằng phương pháp đo mật độ HPTLC. Các thông số sinh thái-thổ nhưỡng của các địa điểm thu thập các mẫu CA đã được ghi lại và tương quan với hàm lượng saponin (ASI, MAD) của chúng. Tiến hành các thử nghiệm đa địa điểm của các dòng CA ưu tú tại bốn địa điểm khí hậu nông nghiệp khác nhau ở Kerala và xác định năng suất sinh khối saponin của chúng. Điều quan trọng là, trong số 106 mẫu CA này, chỉ có 6 mẫu cho thấy hàm lượng saponin cao hơn mức chuẩn được áp dụng trong sản xuất công nghiệp (ASI + MAD ≥ 4,0%), cụ thể là: 45/Ca-55 (6,18 ± 0,26%), 46/Ca-56 (5,88 ± 0,11%), 48/Ca-58 (4,64 ± 0,15%), 49/Ca-59 (6,94 ± 0,23%), 53/Ca-63 (5,59 ± 0,20%), 55/Ca-65 (5,94 ± 0,18%). Các thử nghiệm đa địa điểm của các dòng ưu tú này cho thấy hàm lượng saponin cao nhất ở lô 1, đặc trưng bởi đất cát (pH 6,0), cacbon hữu cơ 2,71%, nitơ 74,20 Kg/ha, phốt pho 100,70 Kg/ha và kali 23,52 Kg/ha. Phân tích GC-MS và ICP-MS cho thấy không có thuốc trừ sâu trong các dòng ưu tú CA và hàm lượng kim loại nặng nằm trong mức cho phép. Hàm lượng (ASI+MAD) cao nhất (7,55%, trọng lượng khô) và năng suất sinh khối (7534,73 Kg/ha) tại Lô 1 được thể hiện bởi dòng ưu tú, 49/Ca-59. Hàm lượng (ASI+MAD) trung bình và năng suất sinh khối tại lô 1 lần lượt là 5,38 ± 1,82% (trọng lượng khô) và 3462,39 ± 2032,54 Kg/ha (n = 6). Đáng chú ý, cả 6 dòng CA ưu tú có hàm lượng ASI, MAD và (ASI+MAD) cao đều được thu thập nguyên bản từ các địa điểm có độ cao  (700-1700 m). Việc sàng lọc ASI, MAD này đối với các dòng CA trên một khu vực địa lý rộng lớn và các thử nghiệm đa địa điểm đối với các dòng ưu tú cho thấy thích ứng về thổ nhưỡng và sinh thái của chúng. Nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện ra một điểm nóng của các dòng vô tính ưu tú CA ở miền Nam Ấn Độ. Báo cáo này và hai báo cáo trước đây của chúng tôi về tổng số 216 mẫu giống cung cấp phạm vi ASI, MAD và (ASI+MAD) trong các mẫu giống CA ở miền Nam Ấn Độ. Hơn nữa, các nghiên cứu này thúc đẩy việc hạn chế thu hái ngẫu nhiên (không kiểm soát) CA khỏi môi trường sống tự nhiên, và phát triển các phương pháp canh tác các dòng ưu tú cho mục đích thương mại. Nhìn chung, nghiên cứu này cung cấp các chiến lược thu hái, canh tác và bảo tồn hướng tới quản lý bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc có giá trị cao này.

                                                                               Hoàng Thúy Nga

TỐI ƯU HÓA THỜI GIAN SẤY CHO RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA (L) URBAN: CÁI NHÌN CHUYỂN HÓA VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH MẤT NƯỚC ĐẾN CÁC CHẤT CHUYỂN HÓA SƠ CẤP VÀ THỨ CẤP

Da Hye Ryu và CS. 

Chemical and Biological Technologies in Agriculture (2025) 12-16

Sấy khô được xem là một kỹ thuật bảo quản nhằm giảm hoạt tính nước, ngăn ngừa sự phát triển của vi sinh vật và duy trì chất lượng của các loại cây thơm và dược liệu. Do đó, việc hiểu rõ những thay đổi trong quá trình chuyển hóa của sản phẩm do mất nước trong quá trình sấy, cũng như những biến đổi trong các hợp chất của cây thuốc, là điều cần thiết.

Rau má (Centella asiatica (L.) Urban) là một trong những loại cây dược liệu quan trọng được sử dụng trong thực phẩm và y học, nổi bật với bốn hợp chất triterpenoid chính gồm hai sapogenin (asiatic acid – AA và madecassic acid – MA) và hai saponin (asiaticosid – AS và madecassosid – MS).

Nghiên cứu này đã khảo sát ảnh hưởng của tốc độ mất nước đến cây rau má bằng cách tiếp cận phân tích chuyển hóa và xác định thời gian sấy thích hợp nhằm thu được hàm lượng cao nhất các hợp chất hoạt tính.

Cù Thị Hằng

NĂNG SUẤT, ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ TRONG HỆ THỐNG SẢN XUẤT CÂY RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA L.) Ở KHU VỰC BÁN KHÔ HẠN CỦA ẤN ĐỘ

MA Suryanarayana và cs.

Journal of Plant Nutrition. 2022; 46(2): 245-260

Rau má là một trong những cây thuốc được buôn bán nhiều nhất trên thị trường toàn cầu, và chủ yếu được thu hái từ nguồn hoang dại hoặc rừng tự nhiên. Khả năng canh tác thương mại các giống ưu tú của cây rau má ở các mức dinh dưỡng khác nhau đã được đánh giá dựa trên hiệu quả sử dụng tài nguyên và chỉ số kinh tế, trong điều kiện ngoài đồng (open-field) và che bóng 50% tại Ấn Độ trong giai đoạn 2016 - 2019. Năng suất tích lũy (tính theo sinh khối tươi) bị ảnh hưởng đáng kể bởi giống và mức dinh dưỡng, cả trong điều kiện ngoài đồng và che bóng 50%. Giống Arka Divya thể hiện vượt trội về năng suất tích lũy trên mỗi ha, đạt 38,5 tấn/ha trong điều kiện ngoài đồng và 33,9 tấn/ha trong điều kiện che bóng 50%. Việc bón phân chuồng hoai mục (FYM) 5 tấn + 125 kg nitơ (N) từ FYM đã giúp đạt năng suất tích lũy cao hơn: 32,2 tấn/ha trong điều kiện ngoài đồng và 33,1 tấn/ha trong điều kiện che bóng 50%. Cả hai hệ thống sản xuất (ngoài đồng và che bóng) đều duy trì được độ phì nhiêu đất và hàm lượng dinh dưỡng cây trồng ở mức tối ưu đến trên tối ưu. Lợi nhuận ròng trên mỗi đồng đầu tư (net return per rupee investment) cao hơn ở giống Arka Divya ở các mức dinh dưỡng khác nhau: từ 2,61–3,69 lần trong điều kiện ngoài đồng và 1,38–1,96 lần trong điều kiện che bóng 50%. Việc áp dụng tích hợp liều lượng khuyến nghị của các chất dinh dưỡng chính cùng với FYM cũng cho thấy lợi nhuận đầu tư cao hơn, đạt 3,69 lần trong điều kiện ngoài đồng và 1,96 lần trong điều kiện che bóng 50%. Do đó, các giống ưu tú của C. asiatica có thể được canh tác hiệu quả về mặt kinh tế, cả trong điều kiện ngoài đồng hoặc che bóng 50%, nếu được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Ngoài ra, rau má cũng có thể được trồng xen canh dưới tán cây ăn quả lâu năm hoặc cây công nghiệp dài ngày, với điều kiện có hệ thống tưới tiêu, nhằm giảm chi phí sản xuất.

Nguyễn Bá Hưng

ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CÁC THÀNH PHẦN CÓ NGUỒN GỐC TỪ RAU MÁ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MỸ PHẨM

Wilbur Johnson Jr  và cs

Int J Toxicol. 2023 Jun;42 (1_suppl):5S-22S.

Hội đồng Chuyên gia về An toàn Thành phần Mỹ phẩm (Hội đồng) đã đánh giá độ an toàn của 9 thành phần có nguồn gốc từ rau má (Centella asiatica), có chức năng chủ yếu là chất dưỡng da trong các sản phẩm mỹ phẩm. Hội đồng đã xem xét các dữ liệu liên quan đến độ an toàn của các thành phần này. Hội đồng kết luận rằng Chiết xuất rau má (Centella Asiatica Extract), Nuôi cấy mô sẹo rau má, Chiết xuất hoa/lá/thân rau má, Chiết xuất nuôi cấy tế bào lá rau má, Chiết xuất lá rau má , Nước lá rau má , Nuôi cấy tế bào gốc rau má , Chiết xuất nuôi cấy tế bào gốc rau má , và Chiết xuất rễ rau má  là an toàn trong các quy trình sử dụng và nồng độ hiện tại trong mỹ phẩm, như được mô tả trong đánh giá an toàn này, khi được bào chế sao cho không gây kích ứng.

                                                           Nguyễn Thị Nụ

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG KẾT HỢP TRÀ Ủ  VÀ PHÂN BÓN VÔ CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG TERPENOID CỦA CÂY RAU MÁ (CENTELLA (L.)

Yasmeen Siddiqui  và cs.

Scientia Horticulturae, 2011, 130(1):289-295

Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá việc sử dụng kết hợp trà  ủ (CT) và phân bón vô cơ (NPK) đối với sự sinh trưởng, năng suất và hàm lượng terpenoid của cây rau má (Centella asiatica (L.) Urban). Kết quả cho thấy khi áp dụng Ct và NPK được sử dụng ở một nửa nồng độ khuyến nghị đã dẫn đến sự tăng cường đáng kể về sinh trưởng, năng suất và hàm lượng chất chống oxy hóa. Đáng chú ý hiệu ứng hiệp đồng giữa CT50 và NPK50 đã thể hiện rõ rệt nhất đối với các thành phần hoạt tính sinh học như axit asiatic, madecassosid và asiaticosid. Về phân bố, tổng hàm lượng chất chống oxy hóa cao nhất ở rễ (80%), tiếp theo là lá (66%) và cuống lá (54%). Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan dương mạnh (r = 0,990) giữa độ phì nhiêu và tổng hàm lượng chất chống oxy hóa, cho thấy việc xử lý bằng phân bón đã thúc đẩy quá trình tổng hợp các hoạt chất sinh học. Phản ứng tích cực này của cây rau má đối với phương pháp xử lý kết hợp cho thấy đây là một lựa chọn khả thi cho việc canh tác rau má thương mại. Việc tăng cường sinh khối thực vật và hàm lượng hoạt chất sinh học sẽ giúp tăng nguồn cung của loại thảo dược này để điều trị nhiều bệnh lý khác nhau ở người.

Nguyễn Văn Dũng

SỰ ĐA DẠNG VỀ HÌNH THÁI LÁ VÀ HÀM LƯỢNG ASIATICOSID Ở BA MẪU GIỐNG RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA) KHI BÓN BỔ SUNG PHÂN GÀ

Mumtazah HM và cs.

Biodiversitas, 2020, số 21:1035-1040

Rau má (Centella asiatica (L.)) được biết đến là một loại thảo dược thiết yếu. Loài cây này có sự đa dạng lớn, đặc biệt là về hình thái lá. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định đặc điểm hình thái lá và ảnh hưởng của liều lượng phân gà đến hàm lượng asiaticosid. Ba mẫu giống rau má được mô tả đặc điểm lá, sau đó tiến hành trồng trên ruộng thí nghiệm. Thí nghiệm 2 nhân tố được thiết kế theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD). Nhân tố thứ nhất là giống (C) với 3 giống (C1: mẫu giống 1; C2: mẫu giống 2; C3: mẫu giống 3). Nhân tố thứ hai là lượng phân gà bón với 4 mức (P1: 0 tấn/ha; P2: 10 tấn/ha; P3: 15 tấn/ha; P4: 20 tấn/ha). Hàm lượng asiaticosid được phân tích bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC), trong đó sử dụng hệ dung môi pha động gồm chloroform: methanol: nước (tỉ lệ 65:25:4). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt hình thái lá giữa ba mẫu giống thể hiện rõ ở kích thước lá và chiều dài cuống lá. Mẫu giống 3 có chiều rộng lá lớn nhất (7,3 cm) và cuống lá dài nhất (9,8 cm). Mẫu giống 2 có chiều rộng lá 5,8 cm và chiều dài cuống lá 8,5 cm. Mẫu giống 1 có lá nhỏ nhất (5,3 cm) và cuống lá ngắn nhất (7,3 cm). Xét về hàm lượng asiaticosid: Mẫu giống 3 cho hàm lượng cao nhất (0,19%); Mẫu giống 1 đạt 0,15%, Mẫu giống 2 có hàm lượng thấp nhất (0,13%). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc bón phân gà làm tăng đáng kể hàm lượng asiaticosid ở mẫu giống 1 và 3, trong khi ở mẫu giống 2, sự gia tăng không có ý nghĩa thống kê. Hàm lượng asiaticosid cao nhất (0,34%) thu được ở mẫu giống 3 khi bón phân gà với liều 20 tấn/ha (P4).

                                             Nguyễn Thị Hương

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN SINH HỌC VÀ PHÂN BÓN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ SINH KHỐI CỦA CÂY RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA (L.) URBAN) TỪ KHU VỰC SIMALUNGUN

Vinolina NS và cs.

IOP Conference Series: Earth and Environmental Science 1241 (2023) 012005

Nhu cầu sử dụng cây rau má cho ngành dược liệu đã tăng lên nhiều mỗi năm. Một trong những giải pháp nhằm nâng cao năng suất cây rau má là sử dụng phân hữu cơ. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón sinh học và phân hữu cơ với các liều lượng khác nhau đến sự sinh trưởng và tích lũy sinh khối của cây. Ở đây hai công thức được sử dụng: phân bón sinh học (BF) với các mức: 0, 1, 2 và 3 ml/L và phân hữu cơ (OF) với các mức: 0; 3,650; 7,301; và 10,952 tấn/ha. Nếu sự khác biệt là rõ rệt, sẽ sử dụng phép thử Duncan ở mức 5% để so sánh tiếp tục. Kết quả chỉ ra rằng việc sử dụng phân sinh học không tạo ra ảnh hưởng rõ rệt nào, điều tương tự cũng xảy ra đối với sự tương tác của phân sinh học và phân hữu cơ. Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng riêng lẻ phân hữu cơ có thể cải thiện đáng kể các chỉ tiêu số lượng dây chính, khối lượng tươi của lá trên mỗi ô, và khối lượng tươi của rễ trên mỗi ô.

Nguyễn Xuân Khánh

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN P2O5, ZEOLIT VÀ ĐẤT NÚI LỬA TỪ CÁC ĐỘ CAO KHÁC NHAU ĐẾN KHOÁNG CHẤT ĐẤT, SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG ASIATICOSIDE CỦA RAU MÁ

Damasus Riyanto và cs.

Sustainability 2022, 14(22): 15394

 

Rau má là một loại cây thảo dược có nhiều lợi ích cho sức khỏe do chứa các hợp chất asiaticosid. Các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng asiaticosid là độ cao, kết cấu đất và tình trạng dinh dưỡng của đất. Nghiên cứu này nhằm xác định tác động của zeolit, phân bón P2O5 và giá thể đất từ các độ cao khác nhau đến rau má. Nghiên cứu được tiến hành trong nhà kính từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018. Thiết kế thí nghiệm là thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên, có ba yếu tố và bốn lần lặp lại. Yếu tố đầu tiên là giá thể đất có nguồn gốc từ độ cao 100, 450 và 900 m so với mực nước biển, yếu tố thứ hai là liều lượng phân bón P2O5 (0, 27, 54 và 81 kg ha−1), và yếu tố thứ ba là liều lượng zeolit (0, 3 và 6 t ha−1). Kết quả cho thấy việc bón khoáng chất zeolit ở mọi độ caođều làm tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng và khả năng trao đổi cation của đất (CEC) lên tới 70%. Điểm mới của nghiên cứu này là đất ở độ cao 900 m so với mực nước biển, với liều lượng phân bón P2O5 là 54 kg ha−1, có kết cấu đất cát pha thịt và cho hàm lượng asiaticosid cao nhất (3,61%) và trọng lượng khô của cây lớn nhất (19,24 g). Những kết quả này không khác biệt đáng kể so với kết quả thu được từ đất ở độ cao 450 m so với mực nước biển, với kết cấu đất thịt pha cát (kết cấu đất thích hợp nhất cho rau má), tức là 3,37% asiaticosid và trọng lượng khô của cây là 19,87 g. Nghiên cứu này kết luận rằng rau má có thể phát triển trên đất cát pha thịt bằng cách bón 54 kg P2O5 cho cây.

Phan Thị Lâm, Nguyễn Xuân Khánh

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN SAU THU HOẠCH ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG CỦA RAU MÁ

Rambir Singh và cs

Journal of Agronomy, 28 July 2023, 13, 1999,

Rau má nổi tiếng với các đặc tính trị liệu trong y học cổ truyền trên toàn thế giới. Tuy nhiên, sự khác biệt đáng kể về hoạt tính dược lý của nó đã được ghi nhận do chất lượng nguyên liệu thô và công thức chưa được chuẩn hóa. Một số bài báo nghiên cứu đã được công bố về cây rau má từ các vùng khác nhau để xác định vùng khí hậu phù hợp với nguồn gen ưu tú. Đồng thời, các nỗ lực đã được triển khai để chuẩn hóa quy trình sản xuất và sau thu hoạch, nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu thô chất lượng cao, đặc biệt là hàm lượng centelloside. Phương pháp mô hình hóa sinh thái chỉ ra rằng tiểu lục địa Ấn Độ có điều kiện khí hậu thích hợp để sản xuất rau má, với các giống có hàm lượng centellosid cao tập trung ở các vùng như Tây Ghats, Đông Bắc, Đông Himalaya và Tây Himalaya. Việc trồng rau má ngoài trời được coi là phù hợp hơn ở các vùng khí hậu nông nghiệp này. Trồng trọt dưới bóng râm cũng phù hợp ở đồng bằng miền Trung Ấn Độ. Nuôi cấy mô và thủy canh rau má đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc tăng cường sản xuất centellosid, sử dụng các chất bổ sung như sucrose, auxin, cytokinin, kinetin và methyl jasmonat. Sấy đông khô là phương pháp sau thu hoạch hiệu quả nhất để bảo toàn hoạt tính dược lý cao của chiết xuất rau má.

Phan Thị Lâm, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bá Hưng

 

ĐÁNH GIÁ SỰ ĐA DẠNG HÌNH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC CỦA CÂY RAU MÁ (CENTELLA ASIATICA) TẠI THÁI LAN

Namfon Chachai và cs.

Trends in Sciences. 2021; 18(23): 502

Đánh giá sự đa dạng hình thái của 30 mẫu giống rau má (Centella asiatica (L.) Urb.) được thu thập từ các vùng khác nhau ở Thái Lan. Sự đa dạng về kiểu hình của 30 mẫu giống rau má (Centella asiatica (L.) Urb.) được thu thập từ các khu vực khác nhau ở Thái Lan đã được đánh giá. Tập tính sinh trưởng của các mẫu giống được phân thành 2 kiểu, bao gồm 20 mẫu có dạng thân đứng và 10 mẫu có dạng thân bò (nằm sát đất). Kiểu sắp xếp lá cũng được chia thành 2 loại, gồm kiểu hình hoa thị (20 mẫu) và kiểu lá tỏa rộng (10 mẫu). Thí nghiệm về sự biến dị các đặc điểm hình thái và nông học được bố trí theo thể thức Hoàn Toàn Ngẫu Nhiên (CRD) với 5 lần lặp lại. Dữ liệu của 11 đặc điểm hình thái và nông học được thu thập sau 2 tháng kể từ khi cấy. Cây phát sinh chủng loại thể hiện sự đa dạng giữa 30 mẫu giống được xây dựng dựa trên hệ số khoảng cách Euclidean, xác định theo 11 đặc điểm hình thái và nông học. Phân tích phương sai cho thấy có sự khác biệt đáng kể và rất đáng kể giữa các mẫu giống ở tất cả các đặc điểm, cho thấy sự biến dị lớn về đặc điểm hình thái và nông học trong nguồn gen rau má. Cây phát sinh chủng loại đã phân loại các mẫu giống rau má thành 2 nhóm khác nhau, với hệ số khoảng cách dao động từ 1,00 đến 25,00. Nhóm thứ nhất gồm 8 mẫu giống, và nhóm thứ hai gồm 22 mẫu giống. Nhóm thứ hai được chia tiếp thành 2 nhóm phụ, trong đó nhóm phụ 2.1 gồm 21 mẫu và nhóm phụ 2.2 chỉ gồm 1 mẫu. Giá trị trung bình của nhóm thứ hai cao hơn nhóm thứ nhất ở tất cả các đặc điểm, ngoại trừ chỉ số SPAD (chỉ số diệp lục). Kết quả cho thấy các mẫu giống trong nhóm thứ hai có thể được sử dụng cho các chương trình lai tạo rau má trong tương lai tại Thái Lan.

Nguyễn Bá Hưng

SỰ THAY ĐỔI TRONG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY RAU MÁ CANH TÁC TRÊN ĐỒNG RUỘNG TẠI SAMOSIR– INDONESIA KHI SỬ DỤNG PHÂN LÂN

Vinolina NS và cs.

Journal of Physics: Conference Series 1819 012015 (2021)

Indonesia là một quốc gia sở hữu đa dạng sinh học lớn. Một trong những loại thực vật rất phát triển là cây rau má (Centella asiatica). Nghiên cứu này nhằm đánh giá phản ứng sinh trưởng và hàm lượng hoạt chất sinh học của cây rau má trước các mức phân lân khác nhau. Đây là một loài cây có giá trị nhờ chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, một nhân tố, với 6 mức liều lượng phân P₂O₅ gồm: 0, 20, 40, 60, 80 và 100 kg/ha, lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy việc bón phân lân không tạo ra ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến các yếu tố sinh trưởng như chiều dài cuống lá, tổng diện tích lá, số stolon và sinh khối thu hoạch của cây Cây rau má được trồng trong điều kiện đất chua. Ở mức 40 kg P₂O₅/ha (F2), cây bón phân có xu hướng cho kết quả cao hơn so với việc không bón. Cây rau má vẫn có thể sinh trưởng tốt trong điều kiện đất có độ chua cao.

Phân tích sàng lọc hoạt chất thứ cấp trên lá và rễ cho thấy sự tồn tại của saponin, tanin, phenolic, flavonoid, triterpenoid, steroid và glycoside; trong khi alkaloid không được tìm thấy.

Nguyễn Xuân Khánh

 

LẮP RÁP VÀ PHÂN TÍCH BỘ GEN TY THỂ CỦA PRUNELLA VULGARIS

Zhihao Sun và cs.

Frontiers in Plant Science, 2023, 14: 1237822.

Prunella vulgaris (họ Hoa môi) phân bố rộng rãi ở lục địa Âu-Á. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh P. vulgaris có nhiều tác dụng dược lý. Tuy nhiên, chưa có báo cáo nào về bộ gen ty thể hoàn chỉnh của P. vulgaris, điều này hạn chế sự hiểu biết sâu hơn về sinh học của P. vulgaris. Nghiên cứu này lần đầu tiên đã lắp ráp bộ gen ty thể hoàn chỉnh của P. vulgaris bằng chiến lược lắp ráp kết hợp dựa trên dữ liệu giải trình tự từ nền tảng Nanopore và Illumina. Sau đó, bộ gen ty thể của P. vulgaris đã được phân tích toàn diện về hàm lượng gen, mức độ ưu tiên sử dụng bộ ba mã hóa di truyền, quá trình chuyển gen giữa các tế bào, phát sinh loài và chỉnh sửa RNA. Bộ gen ty thể của P. vulgaris có hai cấu trúc vòng. Tổng chiều dài của nó là 297.777 bp, hàm lượng GC là 43,92% và có 29 gen mã hóa protein (PCG) riêng biệt. Có 76 đoạn lặp lại trình tự đơn giản (SSR) trong bộ gen ty thể, trong đó các đoạn lặp 4 lần (tetrameri) chiếm tỷ lệ lớn (43,4%). Phân tích so sánh cho thấy có 36 đoạn tương đồng giữa giữa bộ gen ty thể và lục lạp, với tổng chiều dài là 28.895 bp. Phân tích phát sinh loài cho thấy P. vulgaris thuộc họ Lamiaceae và P. vulgaris có quan hệ họ hàng gần với Salvia miltiorrhiza. Ngoài ra, so sánh trình tự bộ gen ty thể của bảy loài thuộc họ Lamiaceae cho thấy không có tính bảo tồn cao và đều đang trải qua hiện tượng tái cấu trúc bộ gen. Nghiên cứu này lần đầu tiên báo cáo bộ gen ty thể hoàn chỉnh của P. vulgaris, cung cấp thông tin di truyền hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về Prunella.

Nguyễn Văn Tâm

NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC PHẢN ỨNG SINH LÝ, CHẤT CHUYỂN HOÁ THỨ CẤP VÀ BIỂU HIỆN GEN CỦA CÂY THUỐC PRUNELLA VULAGARIS L. KHI ĐƯỢC XỬ LÝ BẰNG METHYL JASMONATE NGOẠI SINH VÀ AXIT SALICYLIC

Hong Tang và cs.

Acta Physiologiae Plantarum 2023,  45, 20

Prunella vulgaris L. có tầm quan trọng về mặt y học nhờ khả năng điều trị viêm vú, rối loạn chức năng tuyến giáp và viêm gan truyền nhiễm ở Đông Bắc Á và châu Âu. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa biết nhiều về phản ứng sinh lý, các chất chuyển hóa thứ cấp và biểu hiện gen của P. vulgaris khi đáp ứng với liệu pháp hormon. Trong nghiên cứu này, P. vulgaris ngoài đồng được cấy vào chậu, vai trò của methyl jasmonat (MeJA: 1 mM) và axit salicylic (SA: 4 mM) đã được đánh giá so sánh trong các hệ thống chống oxy hóa, các chất chuyển hóa thứ cấp và biểu hiện gen ở P. vulgaris 24 giờ sau khi xử lý. Kết quả cho thấy hoạt động của các enzyme (ascorbate peroxidase (APX), peroxidase (POD), superoxide dismutase (SOD) và phenylalanine ammonia-lyase (PAL)) và hàm lượng glutathion (GSH), protein hòa tan (SP), hydrogen peroxide (H2O2), tổng phenol (TP), tổng flavonoid (TF), axit rosmarinic (RA) và hyperoside (Hyp) tăng đáng kể khi đáp ứng với điều trị bằng MeJA. Hơn nữa, MeJA còn làm tăng hiệu quả mức độ biểu hiện của PvPAL, 4-coumaroyl CoA ligase (Pv4CL), coumarate 4-hydroxylase (PvC4H) và tyrosine aminotransferase (PvTAT). Tác động của SA lên hoạt tính của các enzyme chống oxy hóa ít rõ ràng hơn, và việc ức chế biểu hiện gen liên quan đến sinh tổng hợp phenylpropanoid dẫn đến giảm hàm lượng TP, TF, RA và Hyp. Do đó, việc sử dụng MeJA hoặc SA đã có tác động đáng kể đến P. vulgaris, giúp cải thiện khả năng chống oxy hóa của P. vulgaris, tăng cường khả năng chống chịu stress của cây trồng và tích lũy các chất chuyển hóa thứ cấp thông qua việc điều chỉnh hàm lượng H2O2. Những kết quả này làm sáng tỏ cơ chế điều hòa bất lợi của P. vulgaris và cung cấp cơ sở khoa học cho việc cải thiện chất lượng cây thuốc.

Đỗ Trần Thẩm Thuý

GIẢI MÃ CON ĐƯỜNG SINH TỔNG HỢP SAPONIN TRITERPEN TRONG PRUNELLA VULGARIS

Si-Jie Liu và cs.

The Plant Journal, 2025, 121(2), e17220

Prunella vulgaris là cây thuốc trong y học cổ truyền Trung Quốc chứa nhiều chất chuyển hóa thuộc nhóm saponin triterpen, đặc biệt là saponin axit ursolic và oleanolic, có giá trị dược lý đáng kể. Mặc dù vậy, các gen chịu trách nhiệm tổng hợp các saponin triterpen này ở P. vulgaris vẫn chưa được xác định. Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp sàng lọc toàn diện, kết hợp phân tích phát sinh loài, đánh giá biểu hiện gen, tương quan chuyển hóa-phiên mã và phân tích đồng biểu hiện, để xác định các gen ứng cử viên tham gia vào quá trình sinh tổng hợp saponin triterpen. Chín gen ứng cử viên - hai OSC, ba CYP716 và bốn UGT73 - đã được xác định chính xác từ các họ gen lớn bao gồm hàng trăm thành viên. Các gen này đã được biểu hiện dị loài và mô tả đặc điểm chức năng, với các xét nghiệm hoạt động enzym xác nhận vai trò của chúng trong con đường sinh tổng hợp, phù hợp với dự đoán tin sinh học. Phân tích cho thấy các gen này có nguồn gốc từ sự kiện nhân đôi toàn bộ hệ gen (WGD) ở P. vulgaris, làm nổi bật tầm quan trọng tiềm tàng của WGD đối với quá trình trao đổi chất ở thực vật. Nghiên cứu này giải quyết khoảng trống kiến thức về sinh tổng hợp triterpen saponin ở P. vulgaris, thiết lập nền tảng lý thuyết cho sản xuất công nghiệp thông qua sinh học tổng hợp. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng giới thiệu một quy trình mang tính phương pháp hiệu quả, tích hợp các nguyên lý tiến hóa và kỹ thuật tin sinh học trong nghiên cứu sinh tổng hợp chất chuyển hóa. Phương pháp tiếp cận này có giá trị đáng kể cho các nghiên cứu tập trung vào việc làm sáng tỏ các con đường sinh tổng hợp khác nhau.

Bùi Thị Xuân

SỰ KHÁC BIỆT VỀ ĐẶC ĐIỂM HOA VÀ TỶ LỆ GIAO PHẤN TRONG HỆ THỐNG SINH SẢN Ở PRUNELLA VULGARIS (LAMIACEAE)

Tial C Ling và cs.

Journal of Plant Ecology, 2022, 15 (1), 39–56

Các đặc điểm hình thái hoa và số lượng tác nhân thụ phấn được cho là sẽ thay đổi tùy theo hệ thống sinh sản. Nghiên cứu đã thực hiện kiểm nghiệm giả thuyết này bằng cách so sánh các hoa của quần thể Prunella vulgaris (họ Lamiaceae) có kiểu vòi nhụy nằm trong (inserted) và kiểu vòi nhụy thò ra ngoài (exserted), tại ba quần thể vùng núi cao có thiên hướng khác nhau: tỷ lệ cao vòi nhụy thò ra ngoài, tỷ lệ thấp vòi nhụy thò ra ngoài, và tỷ lệ cao vòi nhụy nằm trong. Nghiên cứu đã kiểm tra hiện tượng ra hoa, hình thái hoa, tỷ lệ tác nhân thụ phấn ghé thăm, khả năng tự thụ phấn và sự đóng góp của tác nhân thụ phấn vào quá trình kết hạt cho từng kiểu gen và trong từng quần thể. Nghiên cứu cũng đánh giá chỉ số suy giảm cận huyết (ID) bằng cách so sánh hiệu suất tương đối của thế hệ con cháu từ quần thể tự thụ phấn và quần thể giao phấn. Các cây có vòi nhụy thò ra ngoài thường có hoa lớn hơn, cấu trúc hoa mở hơn, có nhiều hạt phấn hơn, tiết nhiều mật hơn và có tần suất tác nhân thụ phấn ghé thăm nhiều hơn, cũng như tỷ lệ giao phấn chéo cao hơn so với các cây có vòi nhụy nằm trong. Tương tự, ở cấp độ quần thể, các quần thể thiên lệch về vòi nhụy thò ra ngoài cũng có tần suất ghé thăm của tác nhân thụ phấn cao hơn so với quần thể thiên lệch về vòi nhụy nằm trong. Các cây có vòi nhụy nằm trong có tỷ lệ thụ phấn (reproductive assurance – RA) cao hơn thông qua khả năng tự thụ phấn, so với các cây có vòi nhụy lòi ra. Tuy nhiên, tỷ lệ thụ phấn và tỷ lệ giao phấn chéo không khác biệt đáng kể giữa các quần thể, cho thấy tần suất các tác nhân thụ phấn ghé thăm thấp vẫn có thể đủ để đảm bảo khả năng kết hạt ở P. vulgaris. Mặc dù các cây có vòi nhụy nằm trong cho thấy mức độ thoái hóa do cận huyết thấp hơn so với cây có vòi nhụy thò ra ngoài, nhưng cả hai đều có chỉ số suy giảm cận huyết dưới 0,5. Điều này gợi ý rằng chỉ số suy giảm cận huyết này không đủ cao để cản trở tiến trình tiến hóa của cơ chế tự thụ phấn ở loài này. Tổng thể, cây có vòi nhụy nằm trong cung cấp tỷ lệ thụ phấn cao thông qua tự thụ phấn, trong khi cây có vòi nhụy thò ra ngoài thúc đẩy sự giao phấn chéo thông qua các tác nhân thụ phấn của côn trùng. Điều này hỗ trợ sự duy trì của một hệ thống sinh sản hỗn hợp ổn định ở loài thực vật vùng núi cao này.

Nguyễn Văn Tâm

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CUNG CẤP PHỐT PHO ĐẾN NĂNG SUẤT CÂY TRỒNG, HIỆU QUẢ QUANG HỢP VÀ SẢN XUẤT THÀNH PHẦN HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA HẠ KHÔ THẢO TRONG ĐIỀU KIỆN THỦY CANH

ManMan Yu và cs.

Journal of Plant Nutrition, 2016, 39(12): 1672-1680.

Nhóm tác giả đã kiểm tra ảnh hưởng của bốn mức phốt pho (P) đến hiệu suất sinh trưởng, hiệu quả quang hợp và sản xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học của hạ khô thảo trong môi trường thủy canh. Kết quả cho thấy ở mức 0,20 mM P làm tăng trọng lượng khô, chiều cao cây, trọng lượng chồi và rễ, chiều dài và số lượng chồi, tổng hàm lượng diệp lục và carotenoid, tốc độ quang hợp thuần, tốc độ thoát hơi nước và độ dẫn khí khổng đã được xác định sau ba tháng xử lý. Nguồn cung cấp P dư thừa dẫn đến nồng độ P lá cao hơn và có tương quan nghịch với sinh khối. Cả hai điều kiện thiếu P (0 mM) và P cao (10,00 mM) đều dẫn đến tăng nồng độ axit ursolic và axit oleanolic, ngoại trừ flavonoid. Sự gia tăng chiết xuất nước từ cụm hoa hạ khô thảo đã được ghi nhận khi áp dụng nồng độ P tăng. Kết quả của nhóm tác giả chỉ ra rằng việc áp dụng liều lượng 0,20 mM P cải thiện sản lượng sinh khối và năng suất các thành phần có hoạt tính sinh học của hạ khô thảo.

Tô Thị Ngân

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG ÁN QUẢN LÝ NƯỚC VÀ CUNG CẤP PHÂN BÓN KHÁC NHAU ĐẾN QUÁ TRÌNH QUANG HỢP, CÁC THÔNG SỐ HUỲNH QUANG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NƯỚC CỦA CÂY GIỐNG PRUNELLA VULAGARIS

Yuhang Chen và cs.

Biological Research 2016 49, : 12

Bối cảnh:

Prunella vulgaris L. là một loại cây thuốc được trồng ở các vùng đất dốc, phủ bóng tại Trung Quốc. Gần đây, biến đổi về môi trường không khí, đặc biệt là do hạn hán, ức chế mạnh mẽ sự sinh trưởng và phát triển của cây, việc cung cấp phân bón phù hợp có thể làm giảm nhẹ những ảnh hưởng này. Tuy nhiên, có rất ít thông tin về tác động của chúng đối với P. vulagris phát triển ở các vùng khô hạn và bán khô hạn với nguồn cung cấp nước và phân bón hạn chế.

Kết quả:

Trong nghiên cứu này, ức chế về thiếu nước làm giảm hàm lượng sắc tố quang hợp, ức chế hiệu suất quang hợp, gây ra tổn thương quang hệ 2 (PS2) và giảm WUEi tức thời của lá. Tốc độ quang hợp thuần (Pn) giảm trong điều kiện hạn hán trung bình so với đối chứng có thể là do hạn chế về khí khổng. Tuy nhiên, việc cung cấp phân bón đã cải thiện khả năng quang hợp bằng cách tăng hàm lượng sắc tố quang hợp và tăng cường hiệu suất quang hợp trong điều kiện thiếu nước. Hơn nữa, việc bón phân trung bình cũng làm tăng WUEi trong cả hai điều kiện nước, nhưng việc cung cấp phân bón không làm giảm đáng kể tổn thương quang hệ 2 do hạn hán gây ra. Do đó, hạn hán là hạn chế chính trong quá trình quang hợp của cây con P. vulagris, trong khi đặc tính quang hợp của cây con lại phản ứng tích cực với việc bón phân.

Kết luận:

Việc bón phân hợp lý được khuyến nghị để cải thiện hiệu quả quang hợp, tăng cường WUEi và giảm thiểu thiệt hại do ánh sáng trong điều kiện hạn hán.

Hoàng Viết Thành

ẢNH HƯỞNG CỦA BỨC XẠ UV-B ĐẾN HÀM LƯỢNG CÁC THÀNH PHẦN HOẠT TÍNH SINH HỌC VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA CỤM bông quả HẠ KHÔ THẢO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

Yuhang Chen và cs.

Molecules 2018, 23(5): 989

Ảnh hưởng của bức xạ UV-B lên hàm lượng các thành phần hoạt tính sinh học và hoạt động chống oxy hóa của cụm bông quả hạ khô thảo trong quá trình phát triển đã được nghiên cứu. Thiết kế thử nghiệm bao gồm hai mức cường độ bức xạ UV-B (0 và 120 μW cm −2 nm −1 ). Kết quả cho thấy hàm lượng flavonoid tổng số, axit rosmarinic, axit caffeic và hyperoside, cũng như khả năng chống oxy hóa (hoạt động dọn gốc DPPH  và ABTS•+) trong cụm hoa giảm đáng kể trong quá trình phát triển của cụm hoa. Hàm lượng salviaflaside trong cụm hoa tăng đáng kể trong quá trình phát triển. Hàm lượng flavonoid tổng số, axit rosmarinic và axit caffeic cao nhất và hoạt động chống oxy hóa cao nhất được tìm thấy trong cụm bông quả ở giai đoạn ra hoa hoàn toàn, trong khi hàm lượng hyperoside cao nhất được tìm thấy trong cụm hoa ở giai đoạn nụ. Ngoài ra, hàm lượng salviaflaside cao nhất được tìm thấy trong cụm bông quả ở giai đoạn chín sinh lý. Bức xạ UV-B thúc đẩy đáng kể quá trình tổng hợp các chất chuyển hóa thứ cấp, làm tăng hàm lượng các thành phần hoạt tính sinh học chính trong ba giai đoạn phát triển của cụm hoa và làm tăng đáng kể hoạt động dọn gốc DPPH  và ABTS•+ của bông hạ khô thảo trong giai đoạn chín-kết quả. Hơn nữa, hàm lượng flavonoid tổng số có mối tương quan tích cực với các hoạt động dọn gốc DPPH  và ABTS•+, và mối tương quan với hoạt động dọn gốc DPPH  rất mạnh. Kết quả này cho thấy hàm lượng cao nhất của các thành phần hoạt tính sinh học chính trong cụm bông quả không phải đều được tìm thấy trong cùng một giai đoạn phát triển của hạ khô thảo. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy giai đoạn tốt nhất để thu hoạch cụm hoa hạ khô thảo là giữa giai đoạn nụ và giai đoạn ra hoa hoàn toàn vì thu hoạch vào thời điểm này cung cấp hàm lượng các thành phần hoạt tính sinh học cao hơn và khả năng chống oxy hóa cao hơn, có liên quan đến các ứng dụng y học.

Tô Thị Ngân

MELATONIN NGOẠI SINH LÀM TĂNG NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG CHẤT CHUYỂN HÓA THỨ CẤP CỦA HẠ KHÔ THẢO BẰNG CÁCH ĐIỀU CHỈNH HỆ THỐNG CHỐNG OXY HÓA, CẤU TRÚC RỄ VÀ KHẢ NĂNG QUANG HỢP

Qingshan Chang và cs.

Plants. 2023 March, 12, 1129.

Melatonin (MT) đóng một số vai trò quan trọng trong việc điều hòa sinh trưởng thực vật và tích lũy chất chuyển hóa thứ cấp. Hạ khô thảo là một loại thảo dược truyền thống quan trọng của Trung Quốc, được sử dụng để điều trị bệnh bạch huyết, bướu cổ và viêm vú. Tuy nhiên, tác dụng của MT đến năng suất và hàm lượng thành phần dược liệu của hạ khô thảo vẫn chưa rõ ràng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã xem xét ảnh hưởng của các nồng độ MT khác nhau (0, 50, 100, 200, 400 µM) đến các đặc điểm sinh lý, hàm lượng chất chuyển hóa thứ cấp và năng suất sinh khối của hạ khô thảo. Kết quả cho thấy xử lý MT ở mức 50 – 200 µM có tác động tích cực. Xử lý MT ở mức 100 µM làm tăng đáng kể hoạt động của superoxide dismutase và peroxidase, hàm lượng đường hòa tan và proline, và làm giảm rõ rệt độ dẫn điện tương đối, hàm lượng malondialdehyd và hydrogen peroxid trong lá. Hơn nữa, nó thúc đẩy đáng kể sự sinh trưởng và phát triển của hệ thống rễ, làm tăng hàm lượng sắc tố quang hợp, cải thiện hiệu suất của hệ thống quang hợp I và II, cũng như sự phối hợp của cả hai hệ thống quang hợp, đồng thời tăng cường khả năng quang hợp của hạ khô thảo. Ngoài ra, nó còn làm tăng đáng kể khối lượng khô của toàn bộ cây, đồng thời thúc đẩy sự tích lũy flavonoid tổng số, phenolic tổng số, axit caffeic, axit ferulic, axit rosmarinic và hyperoside trong hạ khô thảo. Những phát hiện này chứng minh rằng việc sử dụng MT có thể kích hoạt hiệu quả hệ thống phòng thủ chống oxy hóa của hạ khô thảo, bảo vệ bộ máy quang hợp khỏi tổn thương do quang oxy hóa, cải thiện khả năng quang hợp và khả năng hấp thụ của rễ, từ đó thúc đẩy năng suất và sự tích lũy các chất chuyển hóa thứ cấp ở hạ khô thảo.

Trần Ngọc Ánh

PHÂN TÍCH TÍCH HỢP VỀ PHIÊN MÃ, PROTEIN VÀ CHUYỂN HÓA CHO THẤY SỰ ĐIỀU HÒA ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH TRAO ĐỔI CHẤT THỨ CẤP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PRUNELLA VULGARIS L.

Zhimin Zhang và cs.

Fitoterapia, 2022,163: 105334

Hạ khô thảo là một loại cây thuốc và cây thực phẩm sống lâu năm được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Châu Âu. Bông quả màu nâu đỏ của hạ khô thảo, được thu thập vào mùa hè, thường được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền và công nghiệp thực phẩm, trong khi ở Châu Âu và Đài Loan nó cũng được sử dụng tất cả các bộ phận của cây. Để làm rõ các con đường điều hòa và cơ chế hình thành chất lượng ở hạ khô thảo, các phân tích metabolomic, transcriptomic và proteomic hướng đích của các mẫu bông quả từ 05 giai đoạn phát triển liên tiếp đã được thực hiện. Kết quả cho thấy terpenoid chủ yếu được tổng hợp trong giai đoạn chín sinh lý của bông quả, với các enzyme chính và gen mã hóa trong ở các giai đoạn sau chủ yếu được biểu hiện trong quá trình chín, trong khi các enzyme liên quan trong giai đoạn khởi đầu cho thấy mô hình ngược lại. Flavonoid chủ yếu tích tụ trước khi chín, với các enzyme và gen mã hóa của con đường được biểu hiện cao. Sự tích tụ phenylpropanoid tương đối tích cực trong suốt quá trình phát triển. Axit rosmarinic (RA) và các sản phẩm trung gian tổng hợp của nó chủ yếu được tích lũy thông qua các enzyme hoạt động mạnh hơn và các gen mã hóa trước khi chín. Các yếu tố điều hòa và chất chuyển hóa liên quan đến quá trình tổng hợp RA chủ yếu được làm giàu qua các con đường sinh tổng hợp phenylpropanoid, truyền tín hiệu hormone thực vật, tương tác với mầm bệnh thực vật, phosphoryl hóa oxy hóa và xử lý protein lưới nội chất .

Bùi Thị Xuân

HÌNH THÁI THỰC VẬT, ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, QUÁ TRÌNH TÍCH TỤ CÁC CHẤT CHUYỂN HOÁ THỨ CẤP VÀ HOẠT ĐỘNG CHỐNG OXI HOÁ CỦA PRUNELLA VULGARIS L. DƯỚI ĐIỀU KIỆN LOẠI BỎ TIA UV CỦA MẶT TRỜI

Yuhang Chen và cs.

Biol Res. 2019 Apr 1;52(1):17

Bối cảnh:

Prunella vulgaris L. là một loại cây thuốc quan trọng để điều trị rối loạn chức năng tuyến giáp và viêm vú ở Trung Quốc trong hơn 2000 năm qua. Thực tiễn cho thấy nhu cầu cấp thiết của việc lựa chọn các bước sóng hiệu quả để trồng P. vulgaris trong nhà kính vì ánh sáng là một yếu tố rất quan trọng trong sự phát triển của P. vulgaris. Ở đây, chúng tôi mô tả tác động của các điều kiện ánh sáng tự nhiên (kiểm soát) và loại trừ tia UV mặt trời lên các đặc điểm hình thái và sinh lý, hàm lượng các chất chuyển hóa thứ cấp và hoạt tính chống oxy hóa của P. vulgaris.

Kết quả:

Kết quả cho thấy việc loại trừ tia UV mặt trời dẫn đến những thay đổi đáng kể về các đặc điểm hình thái và sinh khối; làm giảm đáng kể hàm lượng diệp lục a, diệp lục b và tổng diệp lục; tăng đáng kể tỷ lệ diệp lục a so với b; và làm tăng đáng kể hàm lượng carotenoid và anthocyanin trong P. vulgaris. Loại trừ tia UV làm tăng đáng kể hoạt động của catalase (CAT) và peroxidase (POD), tăng hoạt động của superoxide dismutase (SOD) và ascorbate peroxidase (APX) và làm giảm nhẹ hàm lượng glutathion (GSH). Loại trừ tia UV làm tăng đáng kể hàm lượng đường hòa tan và H2O2 và làm tăng hàm lượng protein hòa tan nhưng làm giảm đáng kể hàm lượng proline và làm giảm nhẹ hàm lượng MDA. Hàm lượng chất chuyển hóa thứ cấp (tổng số phenolic, axit rosmarinic, axit caffeic, hyperoside, axit ursolic và axit oleanolic) và hoạt tính chống oxy hóa in-vitro (hoạt động dọn gốc DPPH· và ABTS·+) tăng đáng kể ở phần cụm hoa P. vulgaris khi loại trừ tia cực tím. Ngoài ra, hàm lượng polysaccharide và flavonoid tổng số tăng nhẹ trong điều kiện loại trừ tia UV. Hàm lượng salviaflasid giảm đáng kể khi loại trừ tia UV.

Kết luận:

Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh rằng P. vulgaris kích hoạt một số hệ thống bảo vệ chống oxy hóa chống lại tổn thương oxy hóa gây ra bởi điều kiện loại trừ tia UV mặt trời.

Võ Văn Nghĩa

PRUNELLA VULGARIS: TỔNG QUAN TOÀN DIỆN VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC, TÁC DỤNG DƯỢC LÝ VÀ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG

Su-Juan Wang và cs.

Current Pharmaceutical Design 2019;25(3):359-369.

Prunella vulgaris là một loại thảo mộc lâu năm thuộc họ Labiate và phân bố rộng rãi ở các nước Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Các nghiên cứu in vitro hoặc in vivo cho thấy loài cây này thể hiện nhiều hoạt tính sinh học đa dạng bao gồm kháng khuẩn, chống ung thư và chống viêm. Cho đến nay, khoảng 200 hợp chất đã được phân lập từ cây Prunella vulgaris và phần lớn trong số này được mô tả chủ yếu là triterpenoid, sterol và flavonoid, tiếp theo là coumarin, phenylpropanoid, polysaccharid và tinh dầu dễ bay hơi. Bài tổng quan này  và phân tích kiến thức hiện tại về thành phần hóa học, hoạt động dược lý, cơ chế hoạt động và ứng dụng lâm sàng của cây Prunella vulgaris bao gồm cả tiềm năng của nó như một cây thuốc trong tương lai. Mặc dù một số thành phần hóa học của cây Prunella vulgaris và cơ chế hoạt động của chúng đã được nghiên cứu, nhưng hoạt tính sinh học của nhiều thành phần trong số này vẫn chưa được biết đến và cần có thêm các thử nghiệm lâm sàng để thúc đẩy hơn nữa việc sử dụng loại dược liệu này.

Hoàng Viết Thành

SELEN CẢI THIỆN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG Ở HẠ KHÔ THẢO THÔNG QUA ĐIỀU CHỈNH KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA, QUANG HỢP, TĂNG TRƯỞNG, CHUYỂN HÓA THỨ CẤP VÀ BIỂU HIỆN GEN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA ỨC CHẾ AXIT

Lixia Zhang và cs.

Plants. 2025 March, 14, 920

Hạ khô thảo là một dược liệu thiết yếu của y học cổ truyền Trung Quốc, thích hợp trồng trên đất có độ pH từ 6,5 đến 7,5. Tuy nhiên, cây này chủ yếu được trồng ở các vùng đất chua của Trung Quốc, nơi sự phát triển của cây thường bị ảnh hưởng bởi tác động từ axit. Selen (Se) đã được công nhận về khả năng tăng cường khả năng chống chịu điều kiện bất thuận ở thực vật. Tuy nhiên, vai trò của nó trong điều kiện bất thuận về oxy hóa do tác động từ axit gây ra vẫn chưa rõ ràng. Trong nghiên cứu này, tác động của các nồng độ Se khác nhau lên sự sinh trưởng và chất lượng của hạ khô thảo dưới tác động từ axit đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy tác động từ axit làm tăng hoạt động của enzyme chống oxy hóa, các chất chống oxy hóa không phải enzyme và hàm lượng thẩm thấu, kèm theo sự gia tăng sản xuất chất oxy hóa và tổn thương màng. Hơn nữa, nó làm giảm khả năng quang hợp, ức chế sự phát triển của rễ và thân, và làm giảm năng suất của hạ khô thảo. Ngược lại, việc bổ sung Se ngoại sinh, đặc biệt là ở mức 5 mg L−1, đã cải thiện đáng kể những tác dụng phụ này. So với cây trồng chịu hạn axit, xử lý 5 mg L−1 Se làm tăng hoạt động của superoxide dismutase, peroxidase, ascorbate peroxidase và glutathione peroxidase lần lượt là 150,19%, 54,94%, 43,43% và 45,55%. Ngoài ra, hàm lượng protein hòa tan, đường hòa tan và proline tăng lần lượt là 11,75%, 23,32% và 40,39%. Ứng dụng Se cũng cải thiện cấu trúc rễ và làm giảm tổn thương màng bằng cách giảm mức độ rò rỉ hydrogen peroxide, superoxide anion, malondialdehyde và chất điện giải. Hơn nữa, nó làm tăng đáng kể khả năng quang hợp bằng cách nâng cao mức độ sắc tố, hiệu suất của PSI và PSII, truyền electron và sự phối hợp của PSI và PSII. Do đó, sự tăng trưởng của cây và trọng lượng cụm hoa được thúc đẩy đáng kể, với năng suất tăng 12,50%. Hơn nữa, việc sử dụng Se đã điều hòa tăng các gen chính liên quan đến các con đường chuyển hóa flavonoid và axit phenolic, dẫn đến nồng độ flavonoid tổng số, axit caffeic, axit ferulic, axit rosmarinic và peroside tăng lần lượt 31,03%, 22,37%, 40,78%, 15,11% và 20,84% so với cây chịu hạn. Tóm lại, Se ngoại sinh đã làm giảm hiệu quả các tác động bất lợi của hạn axit bằng cách cải thiện hệ thống chống oxy hóa, khả năng sinh trưởng và quang hợp trong điều kiện hạn axit, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng của cây hạ khô thảo

Trần Ngọc Ánh

NGHIÊN CỨU VỀ SỰ BIẾN ĐỔI KIỂU HÌNH Ở QUẦN THỂ PRUNELLA VULGARIS HOANG DẠI

Xiaoyu Wu và cs.

Horticulturae, 2024, 10 (12), 1344;

Mục tiêu: Một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm làm rõ quy luật biến dị của các đặc điểm kiểu hình như thân, lá, hoa, cụm bông quả chính và hạt của Prunella vulgaris Linnaeus. (P. vulgaris), cung cấp dữ liệu cơ bản hỗ trợ cho việc bảo vệ nguồn gen hoang dại của loài này. Các đặc điểm kiểu hình của thân, lá, hoa, cụm bông quả chính và hạt của các quần thể P. vulgaris hoang dại khác nhau đã được theo dõi để làm rõ sự biến dị kiểu hình giữa các quần thể và trong cùng một quần thể P. vulgaris, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo vệ, sử dụng và thu thập nguồn gen P. vulgaris hoang dại.

Phương pháp: Phân tích phương sai, phân tích hệ số sai khác, phân tích so sánh bội, phân tích cụm và phân tích thành phần chính đã được sử dụng để nghiên cứu các đặc điểm kiểu hình của chín quần thể P. vulgaris hoang dại ở các vùng khác nhau của Trung Quốc.

Kết quả: Hệ số sai khác kiểu hình trung bình của chín đặc điểm là 52,04%. Biến dị giữa các quần thể là nguồn chính gây ra biến dị kiểu hình của P. vulgaris. Hệ số sai khác trung bình của mỗi tính trạng trong quần thể là 21,25%, và phạm vi biến thiên là 15,02–28,94%. Phân tích tương quan Pearson cho thấy có sự tương quan mạnh giữa các đặc điểm kiểu hình của P. vulgaris hoang dại, và các yếu tố môi trường có tương quan rất lớn đến đặc điểm gai và thân cây. Theo đường kính thân và bắp, chín quần thể P. vulgaris hoang dại thu thập từ địa lý khác nhau có thể được chia thành ba nhóm. Nhóm III (AHHS, JXFY) có các đặc điểm kiểu hình tốt nhất, và các đặc điểm về chiều cao thân, đường kính thân, chiều dài lá, chiều rộng lá và chiều dài cụm bông quả chính là lớn nhất. Tỷ lệ đóng góp của ba thành phần chính được sàng lọc bằng phân tích thành phần chính là 85,78%.

Kết luận: Nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt về kiểu hình giữa các quần thể P. vulgaris hoang dại ở mức trung bình, và chỉ số khác biệt trong một quần thể nhỏ hơn so với chỉ số khác biệt giữa các quần thể, đây có thể là một lý do quan trọng dẫn đến sự suy giảm mạnh nguồn gen P. vulgaris hoang dại.

Nguyễn Văn Tâm

ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG ĐẶC ĐIỂM CÁC HỌ GEN VÀ PHÂN TÍCH CHỨC NĂNG CỦA PvRAS3 VÀ PvRAS4 LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH TỔNG HỢP AXIT ROSMARINIC Ở PRUNELLA VULGARIS

Yan C và cs.

Frontiers in Plant Science 2024, 15:1374912

Prunella vulgaris là một dược liệu quan trọng trong y học Trung Quốc với thành phần chính là axit rosmarinic (RA). Dựa trên bộ gen ở cấp độ nhiễm sắc thể mà chúng tôi thu được gần đây, 51 gen liên quan đến quá trình sinh tổng hợp RA đã được xác định. Phân tích đặc điểm trình tự, mô hình biểu hiện gen và mối quan hệ phát sinh loài cho thấy 17 trong số chúng có thể tham gia vào quá trình sinh tổng hợp RA. Thử nghiệm enzym in vitro cho thấy PvRAS3 xúc tác quá trình ngưng tụ p-coumaroyl-CoA và caffeoyl-CoA với pHPL và DHPL. Ái lực của nó đối với p-coumaroyl-CoA cao hơn caffeoyl-CoA. PvRAS4 xúc tác quá trình ngưng tụ p-coumaroyl-CoA với pHPL và DHPL. Ái lực của nó đối với p-coumaroyl-CoA thấp hơn PvRAS3. Phân tích UPLC và LC-MS/MS cho thấy sự hiện diện của RA, axit 4-coumaroyl-3’,4’- dihydroxyphenyllactic, axit 4 - coumaroyl-4’ hydroxyphenyllactic và axit caffeoyl-4’-hydroxyphenyllactic trong P. vulgaris. Việc tạo ra và phân tích các đột biến đồng hợp tử pvras3 cho thấy sự giảm đáng kể của RA, axit 4–coumaroyl-3’,4’-dihydroxyphenyllactic, axit 4-coumaroyl-4’-hydroxyphenyllactic và axit caffeoyl-4’-hydroxyphenyllactic, đồng thời làm tăng đáng kể DHPL và pHPL. Điều này cho thấy PvRAS3 là enzyme chính xúc tác quá trình ngưng tụ các chất cho và nhận acyl trong quá trình sinh tổng hợp RA. Vai trò của PvRAS4 dường như không đáng kể. Kết quả này cung cấp thông tin quan trọng cho việc kiểm soát chất lượng dược liệu P. vulgaris.

Đỗ Trần Thẩm Thuý

 

XÁC ĐỊNH VÀ KIỂM CHỨNG MỘT CÁCH HỆ THỐNG CÁC GEN THAM CHIẾU PHÙ HỢP ĐỂ CHUẨN HÓA BIỂU HIỆN GEN Ở PRUNELLA VULGARIS Ở CÁC CƠ QUAN VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN GAI KHÁC NHAU

Hui Zheng và cs.

Genes, 2022, 13(11), 1947;

Phản ứng chuỗi polymerase định lượng thời gian thực (qRT-PCR) là một phương pháp hiệu quả và nhạy để xác định mức độ biểu hiện gen, tuy nhiên độ chính xác của kết quả phụ thuộc đáng kể vào tính ổn định của gen tham chiếu (RG). Do đó, việc lựa chọn một gen tham chiếu phù hợp là một bước quan trọng trong việc chuẩn hóa dữ liệu qRT-PCR. Prunella vulgaris L. là một loại thảo dược được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Trung Quốc. Bộ phận dùng làm thuốc chính của nó là phần bông quả được gọi là Spica Prunellae. Tuy nhiên, cho đến nay, có rất ít nghiên cứu được thực hiện về cơ chế phát triển của Spica Prunellae. Trong khi đó, không có gen tham chiếu đáng tin cậy nào được báo cáo ở P. vulgaris. Mức độ biểu hiện của 14 gen tham chiếu ứng viên đã được phân tích trong nghiên cứu này ở các cơ quan khác nhau và ở các giai đoạn phát triển khác nhau của Spica Prunellae. Bốn thuật toán thống kê (Delta Ct, BestKeeper, NormFinder và geNorm) đã được sử dụng để xác định tính ổn định của các gen tham chiếu và xếp hạng tính ổn định tích hợp đã được tạo ra thông qua trang web RefFinder trực tuyến. Kết quả xếp hạng cuối cùng cho thấy eIF-2 là gen tham chiếu ổn định nhất, trong khi VAB2 là kém phù hợp nhất làm tham chiếu. Hơn nữa, eIF-2 + Histon3.3 được xác định là sự kết hợp gen tham chiếu tốt nhất trong các giai đoạn khác nhau và trên tổng số mẫu. Cuối cùng, biểu hiện của gen PvTAT và Pv4CL2 liên quan đến điều hòa tổng hợp axit rosmarinic ở các cơ quan khác nhau đã được sử dụng để xác minh gen tham chiếu ổn định và không ổn định. Các gen tham chiếu ổn định ở P. vulgaris ban đầu đã được xác định và xác minh trong nghiên cứu này. Các kết quả này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho việc có được phân tích qPCR đáng tin cậy và đặt nền tảng cho nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế phát triển của Spica Prunellae.

Bùi Thị Xuân

NHIỆT ĐỘ VÀ QUANG CHU KỲ LÀM THAY ĐỔI QUÁ TRÌNH RA HOA Ở PRUNELLA VULGARIS BẰNG CÁCH GÂY RA NHỮNG THAY ĐỔI VỀ HÌNH THÁI, HORMON NỘI SINH, CÁC CHẤT CHUYỂN HÓA CACBON/NITƠ VÀ BIỂU HIỆN GEN

Zanzan Li và cs.

J. AMER. S OC. HORT. S CI. 147(2):73–81. 2022.

Cây hạ khô thảo được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực y tế, đồ uống và cảnh quan. Nhiệt độ và quang chu kỳ là hai yếu tố sinh thái chính quyết định sự chuyển đổi của nhiều loài thực vật từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh sản. Để khám phá phản ứng của sự ra hoa của hạ khô thảo đối với nhiệt độ và cảm ứng quang chu kỳ, chúng tôi đã áp dụng các phương pháp xử lý xuân hóa ngày dài, xuân hóa ngày ngắn, phi xuân hóa ngày dài và phi xuân hóa ngày ngắn. Kết quả cho thấy hình thái (tổng số lá, số cành, số lá trên cành và chiều dài cành) của các nhóm xử lý xuân hóa khác biệt đáng kể so với các nhóm phi xuân hóa khác và các sắc tố quang hợp, tốc độ quang hợp thuần, hiệu quả sử dụng nước, độ dẫn khí khổng, nồng độ CO2 nội bào và tốc độ thoát hơi nước tăng lên ở nhóm xử lý xuân hóa. Tuy nhiên, hàm lượng gibberellin 3 (GA3), axit indole-3-acetic và zeatin riboside (ZR) tăng đáng kể trong nhóm xử lý ngày ngắn, và kết quả cũng tương tự đối với biểu hiện của các gen tổng hợp hormone nội sinh, ngoại trừ axit abscisic (ABA). Các gen liên quan đến ra hoa soc1, elf3, svp, ga20ox và cry1 được biểu hiện cao trong điều kiện xuân hóa ngày ngắn. Do đó, việc cảm ứng xuân hóa có lợi hơn cho việc tăng tốc độ quang hợp. Nhiệt độ và quang chu kỳ đồng thời kích thích tổng hợp và tích tụ tinh bột, đường, axit amin và protein, đồng thời ảnh hưởng đến hàm lượng hormon nội sinh và biểu hiện của các gen tham gia vào quá trình tổng hợp của chúng. GA3 và ZR có ngưỡng điều hòa quá trình ra hoa ở hạ khô thảo, và nồng độ ABA cao thúc đẩy ra hoa. Nhiệt độ và chu kỳ quang hợp phối hợp biểu hiện của các gen liên quan đến ra hoa soc1, elf3, svp, ga20ox và cry1, do đó ảnh hưởng đến quá trình ra hoa ở hạ khô thảo.

Trần Ngọc Ánh

ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG ĐỎ XA VÀ MỨC ĐỘ DINH DƯỠNG LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ CÁC CHẤT CHUYỂN HOÁ THỨ CẤP CỦA NUÔI CẤY IN VITRO PRUNELLA VULAGARIS

Chen C-L và cs.

Agronomy 2023, 13, 2250

Prunella vulgaris, một loại cây thuốc có khả năng chống oxy hóa, đã được nghiên cứu về phản ứng của nó với các cường độ khác nhau của ánh sáng đỏ xa và mức độ dinh dưỡng. Cây con được trồng trong 30 ngày trong điều kiện ánh sáng đỏ xa thấp (LFR) hoặc ánh sáng đỏ xa cao (HFR) và các mức dinh dưỡng khác nhau (toàn phần, một nửa và một phần tư). HFR làm giảm số lượng lá và cành, trọng lượng khô và sự tích tụ của diệp lục (Chl) và carotenoid (Car), đồng thời làm tăng chiều cao cây. Mức dinh dưỡng thấp hơn làm tăng chiều cao cây và số lượng lá, nhưng làm giảm số lượng cành, Chl và Car. HFR làm tăng đáng kể tổng hàm lượng phenolic (TPC), rutin và axit rosmarinic, trong khi tổng hàm lượng flavonoid giảm. Khi mức dinh dưỡng giảm, TPC và axit rosmarinic cũng giảm. HFR tạo ra hoạt động dọn gốc DPPH đáng kể, trong khi sức mạnh khử tăng lên khi ánh sáng đỏ xa và mức dinh dưỡng cao hơn. Hiệu ứng tạo phức ion sắt (II) dưới LFR giảm khi mức dinh dưỡng thấp hơn. Có mối tương quan mạnh giữa TPC, axit rosmarinic, hoạt tính loại bỏ gốc tự do DPPH và khả năng khử. Tóm lại, HFR ức chế sự phát triển của cây con nhưng tăng cường tích lũy chất chuyển hóa thứ cấp và khả năng chống oxy hóa. Các mức dinh dưỡng khác nhau kích thích các phản ứng tăng trưởng đa dạng, trong khi mức dinh dưỡng cao thúc đẩy sản xuất chất chuyển hóa thứ cấp. Nghiên cứu này đã chứng minh phản ứng tăng trưởng, tích lũy chất chuyển hóa thứ cấp và hoạt tính chống oxy hóa ở P. vulgaris nuôi cấy in vitro với ánh sáng đỏ xa bổ sung và các mức dinh dưỡng khác nhau.

Đỗ Trần Thẩm Thuý

 

 

(Nguồn tin: Viện Dược liệu)