Bản tin dịch
CÁC HỢP CHẤT PHENANTHREN GÂY ĐỘC TẾ BÀO VÀ THÀNH PHẦNPHENOLIC TỪ CỦ CỦA LOÀI HOÀI SƠN (DIOSCOREA PERSIMILIS)
Nguyễn Thị Thanh Ngân và cs.
Phytochemistry Letters. 2020 Dec; 40: 139-143
Tóm tắt
Rễ củ của loài hoài sơn (Dioscorea persimilis) đãđược sử dụng rộng rãi như một loại thực phẩm và trong điều trị suy nhược cơ thể, bệnh đường ruột, tiêu chảy, kiết lỵ kéo dài, di tinh, viêm tử cung, suy thận, đau lưng, chóng mặt và đổ mồ hôi trộm. Trong nghiên cứu này 11 hợp chất thứ cấp đã được phân lập từ hoài sơn (D. persimilis) bao gồm: ba dẫn xuất phenanthren mới là: diospersimilosid A (1), B (2) và diosbiphenanthren (3), và tám hợp chất phenolic đã biết: 2,4,6,7-tetrahydroxy-9,10-dihydrophenanthren (4), aerosin (5), gastrodin (6), 2-phenylethyl-β-D-glucopyranosid (7), afzelechin (8), catechin (9), acid eucomic (10) và acid vanillic-4-O-β-D-glucopyranosid (11). Cấu trúc hóa học của chúng được làm sáng tỏ dựa trên việc phân tích dữ liệu phổ NMR và phổ khối. Các hợp chất trên được đánh giá độc tính đối với ba dòng tế bào ung thư ở người, bao gồm gan (HepG2), vú (MCF7) và u hắc tố (SK-Mel-2), kết quả cho thấy các hợp chất phenanthren (3-5) có độc tính đối với tất cả các dòng tế bào, với giá trị IC50 trong khoảng 8,2–68,4 μM. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm hydroxy tự do đóng vai trò quan trọng đối với tác dụng gây độc tế bào của các phenanthren và cho thấy các hợp chất polyhydroxy hóa dihydrophenanthren và biphenanthren có thể được coi là tác nhân gây độc tế bào tiềm năng đối với các tế bào ung thư ở người.
Phạm Văn Công – Đặng Đức Huy
POLYSACCHARID TỪ HOÀI SƠN (DIOSCOREAE PERSIMILIS) CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG VIÊM LOÉT ĐẠI TRÀNG DO DSS GÂY RA Ở CHUỘT THÔNG QUA VIỆC ĐIỀU CHỈNH THÀNH PHẦN VI KHUẨN TRONG HỆ ĐƯỜNG RUỘT
Qian Zhang và cs.
Journal of Holistic Integrative Pharmacy. 2023 Oct; 4(2):
157-165.
Viêm loét đại tràng (UC) là một bệnh viêm ruột không đặc hiệu có tỷ lệ tái phát cao, cần phát triển các phương pháp điều trị mới có hiệu quả cao và ít tác dụng phụ. Hoài sơn (Dioscoreae persimilis) được sử dụng rộng rãi như một phương thuốc chữa các bệnh về đường tiêu hóa trong y học cổ truyền Trung Quốc. Polysaccharid đã được chứng minh là có tác dụng bảo vệ UC. Tuy nhiên, vai trò của polysaccharid từ hoài sơn (D. persimilis) đối với UC vẫn chưa được nghiên cứu. Polysaccharid (DP) từ hoài sơn (D. persimilis), được cấu tạo gồm glucose và galactose, đã được chiết xuất và tinh chế bằng phương pháp phân chia ba pha (TPP). Các đặc điểm hóa học và cấu trúc chính của DP đã được nghiên cứu dựa trên các phương pháp phổ UV, FT-IR, trọng lượng phân tử và thành phần monosaccharid. Nghiên cứu tác dụng làm giảm viêm loét đại tràng của DP trên mô hình chuột bị gây viêm loét đại tràng bởi natri dextran sulfate (DSS), cho thấy DP có tác dụng làm giảm các thay đổi mô bệnh học của đại tràng, cải thiện khả năng chống oxy hóa ở đại tràng và cải thiện phản ứng viêm ở chuột bị viêm đại tràng. Hơn nữa, giải trình tự 16S rDNA của phân cho thấy DP có thể phục hồi sự đa dạng và thành phần của hệ vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là điều chỉnh tăng mật độ của Acetatifactor, Lachnospiraceae và Lactobacillus, và tăng tỷ lệ Firmicutes/Bacteroidetes. Nghiên cứu này đã chỉ ra DP có tiềm năng là thực phẩm bổ sung dinh dưỡng hiệu quả để cải thiện tình trạng viêm đại tràng.
Baozuo He và cs.
Journal of Chinese Medicinal Materials. 2002 Apr; 25(4): 233-237
Mục tiêu
Đánh giá chất lượng thân rễ của loài hoài sơn (D. persimilis Prain et Burk.)
Phương pháp
Xác định hàm lượng của 6 chỉ số định tính trong các mẫu thân rễ hoài sơn (D. persimilis Prain et Burk.) được trồng ở Yongning, Bobai, Beiliu, Guiping và Rongxian của tỉnh Quảng Tây và trong mẫu thân rễ của loài Dioscorea opposita Thunb, được trồng ở Wenxian, tỉnh Hà Nam.
Kết quả
Các kết quả nghiên cứu trên các mẫu cho thấy,hàm lượng nước (%): 15,39, 18,52, 15,41, 13,96, 15,48, 15,74; hàm lượng protein (%): 7,06, 8,45, 9,20, 9,67, 8,63, 9,79; hàm lượng tinh bột (%): 84,51, 86,51, 82,72, 83,65, 84,19, 79,13; hiệu suất cao chiết nước (%): 6,19, 6,98, 8,95, 7,41, 6,70, 9,40; hiệu suất cao chiết cồn (EtOH 90%) (%): 2,00, 2,04, 2,68, 2,20, 2,11, 3,53; hàm lượng 18 loại acid amin (%): 5,23, 6,31, 6,22, 6,78, 6,59, 6,83.
Kết luận
Chất lượng thân rễ của hoài sơn (D. persimilis Prain et Burk.) được trồng ở Guiping hoặc Beiliu tốt hơn so với được trồng ở Yongning. Đồng thời chất lượng thân rễ của D. persimilis Prain et Burk được trồng ở Rongxian hoặc Bobai kém hơn so với loài trồng ở Guiping hoặc Beiliu và tốt hơn với loài trồng ở Yongning. Chất lượng của thân rễ hoài sơn (D. persimilis Prain et Burk.) được trồng ở Guiping hoặc Beiliu tương tự như thân rễ của loài Dioscorea opposita.
Phạm Văn Công
TRÌNH TỰ HOÀN CHỈNH CỦA HỆ GEN LỤC LẠP CỦA HOÀI SƠN (DIOSCOREA PERSIMILIS PRAIN ETBURKILL) (DIOSCOREACEAE)
Tianxu Cao và cs.
Mitochondrial DNA part B. 2020 Jan; 5(1): 451-452
Hoài Sơn (Dioscorea persimilis) thuộc chi Dioscorea, được coi là một trong những loại thực phẩm và thuốc cổ truyền phổ biến nhất ở Trung Quốc. Nghiên cứu này đã xác định được bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của hoài sơn (D. persimilis). Tổng kích thước bộ gen là 153.219 bp, chứa một cặp lặp lại đảo ngược (IR) dài 25.477 bp, được phân tách bằng bản sao đơn lớn (LSC) và bản sao đơn nhỏ (SSC) lần lượt là 83.448 bp và 18.817 bp. Hàm lượng GC (tỷ lệ phần trăm các bazơ Guanine và Cytosine trong một đoạn DNA hoặc RNA) là 37,01%. Tổng cộng có 129 gen được dự đoán bao gồm 84 gen mã hóa protein, tám gen rRNA và 37 gen tRNA. Phân tích cây phân loại loài của 24 loài trong chi Dioscorea chỉ ra rằng hoài sơn (D. persimilis) gần với khoai mỡ Trung Quốc hơn, nhưng có mối quan hệ phát sinh loài từ xa với khoai mỡ Guinea.
Ghi chú: Bản dịch này nên chuyển về khối Nông sinh sẽ phù hợp hơn. Không rõ GC trong sinh học nghĩa là gì?
CÁC HỢP CHẤT CHUYỂN HÓA THỨ CẤP TỪCỦ HOÀI SƠN (DIOSCOREA PERSIMILIS)
Vietnam Journal of Chemistry. 2021 Oct; 59 (5): 684-688
Tóm tắt:
Bảy hợp chất chuyển hóa thứ cấp đã được phân lập từ phân đoạn nước củacủ hoài sơn (Dioscorea persimilis) bằng việc kết hợp các kỹ thuật sắc ký. Cấu trúc của chúng được xác định là: 4-O-(6′-O-glucosyl-4′′-hydroxybenzoyl)-4-hydroxybenzyl alcohol (1), trans-N-p-coumaroyltyramine (2), cyclo-(Phe-Tyr) (3), syringaresinol (4), syringaresinol O-β-D-glucopyranosid (5), corchoionosid C (6), và oct-1-en-3-yl arabinopyranosyl-(1→6)-β-glucopyranosid (7) bằng các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) một chiều (1D), hai chiều (2D) và phổ khối lượng (MS) đồng thời kết hợp so sánh dữ liệu phổ của chúng với dữ liệu đã được công bố trước đây. Ngoài ra, các hợp chất (1-3) cũng thể hiện độc tính tế bào yếu trên các dòng tế bào ung thư HepG2, MCF7 và SK-Mel-2. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên báo cáo về việc phân lập, xác định cấu trúc và độc tính của hợp chất 1.
Phạm Văn Công – Nguyễn Xuân Lan
MÔ HÌNH CANH TÁC ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VÀ TÍNH CHẤT HÓA LÝ CỦA TINH BỘT HOÀI SƠN (DIOSCOREA PERSIMILIS)
Yao Xiao và cs.
International Journal of Biological Macromolecules.
2023 Jul; 242 (2): 125004
Hoài sơn (Dioscorea spp.) là một nguồn lương thực quan trọng ở nhiều quốc gia do củ chứa hàm lượng tinh bột cao (chiếm 60–89% khối lượng khô) cùng với nhiều vi chất dinh dưỡng thiết yếu. Mô hình canh tác định hướng siêu gen (Orientation Supergene Cultivation – OSC) là một phương pháp trồng trọt đơn giản và hiệu quả, được phát triển tại Trung Quốc trong những năm gần đây. Tuy nhiên, hiện vẫn còn ít nghiên cứu về ảnh hưởng của phương pháp này đến đặc tính tinh bột của củ hoài sơn.
Trong nghiên cứu này, năng suất củ chứa tinh bột, cấu trúc tinh bột và các tính chất hóa lý của giống Dioscorea persimilis “zhugaoshu” – một giống được trồng phổ biến, đã được so sánh và phân tích chi tiết giữa hai mô hình: OSC và mô hình trồng thẳng đứng truyền thống (Traditional Vertical Cultivation – TVC). Kết quả cho thấy OSC giúp tăng đáng kể năng suất củ (23,76%–31,86%) và cải thiện chất lượng thương phẩm (vỏ củ nhẵn hơn) so với TVC trong ba năm thí nghiệm liên tiếp ngoài đồng ruộng.
Ngoài ra, mô hình OSC làm tăng hàm lượng amylopectin, tinh bột kháng, đường kính trung bình hạt tinh bột và mức độ kết tinh trung bình lần lượt là 2,7%, 5,8%, 14,7% và 9,5%, đồng thời làm giảm khối lượng phân tử (Mw) của tinh bột. Những thay đổi này dẫn đến tinh bột có đặc tính nhiệt thấp hơn (To, Tp, Tc, ΔHgel) nhưng lại có độ nhớt hồ cao hơn (PV, TV).
Kết quả cho thấy mô hình canh tác có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và tính chất hóa lý của tinh bột hoài sơn. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc ứng dụng và mở rộng mô hình OSC, mà còn mang lại thông tin có giá trị giúp định hướng sử dụng tinh bột hoài sơn trong các ngành công nghiệp thực phẩm và phi thực phẩm.
Ghi chú: Bản dịch này nên chuyển về khối Nông sinh sẽ phù hợp hơn. Nên xin thêm ý kiến Ban biên tập tạp chí.
CHẤT LƯỢNG CỦA CỦ HOÀI SƠN (DIOSCOREA PERSIMILIS) THU HOẠCH Ở CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG KHÁC NHAU
Zhang Wujun và cs.
Fujian Journal of Agricultural Sciences. 2021 Nov; 36(11): 1264-1271.
Mục tiêu: So sánh chất lượng củ hoài sơn (Dioscorea persimilis) được thu hoạch tại các thời điểm khác nhau.
Phương pháp: Củ của giống hoài sơn (D. persimilis) Ninghua được thu thập thành 9 đợt, từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 5 tháng 5 năm sau. Các chỉ tiêu chất lượng bao gồm tốc độ khô, hàm lượng protein, tinh bột, acid amin, đường hòa tan, sucrose, polysaccharid thô, allantoin và tổng phenol được xác định. Dữ liệu được xử lý bằng phép so sánh đa biến và phân tích tương quan.
Kết quả: Vào ngày 20 tháng 10, khi sự tích lũy sinh khối trong củ gần như hoàn tất, hàm lượng đường hòa tan, sucrose và polysaccharid thô đạt mức cao nhất, lần lượt là 5,69%, 5,29% và 2,73%. Củ thu hoạch vào thời điểm này thường có vị ngon hơn, nhưng hàm lượng tổng phenol cao khiến chúng chỉ phù hợp cho tiêu thụ tươi. Trong khi đó, các củ được thu hoạch vào khoảng ngày 5 tháng 12 (khi thân và lá đã khô héo nhiều) và từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 10 tháng 4 (khi củ kết thúc thời kỳ ngủ đông và bắt đầu nảy mầm) có tốc độ khô từ 33,84%–35,50%. Hàm lượng tinh bột, protein, allantoin, tổng acid amin, acid amin thiết yếu và acid amin tạo vị lần lượt đạt 73,14%-78,12%, 6,33%-6,51%, 3,95-4,29 mg·g⁻¹, 48,5-50,8 mg·g⁻¹, 15,0-15,5 mg·g⁻¹ và 18,9-20,2 mg·g⁻¹. Hàm lượng polysaccharid trong củ thu hoạch giai đoạn 15/3–10/4 vượt quá 2,92%. Sự thay đổi về thành phần này giúp củ được thu hoạch trong khoảng thời gian này có chất lượng ngon hơn khi ăn. Thêm nữa, điều này cũng giảm tỷ lệ nứt gãy trong và sau khi thu hoạch và bảo quản sau đó.
Ngược lại, thu hoạch vào khoảng ngày 10 tháng 11 hoặc từ cuối tháng 12 đến tháng 3 năm sau làm tăng tốc độ khô lên trên 36%, khiến củ dễ nứt gãy sau khi thu hoạch, chỉ phù hợp cho chế biến tiếp sau. Từ ngày 10 tháng 4 đến ngày 5 tháng 5, khi chồi non bắt đầu xuất hiện, chất lượng dinh dưỡng và hình thái củ giảm rõ rệt, hàm lượng tổng phenol tăng cao, đồng thời gây cản trở việc trồng vụ mới do đó thu hoạch củ trong giai đoạn này là không thích hợp.
Kết luận: Tùy theo nhu cầu thị trường (tiêu thụ tươi hoặc chế biến), củ hoài sơn (D. persimilis có thể được thu hoạch trong khoảng thời gian từ khi hoàn tất tích lũy sinh khối đến trước khi xuất hiện chồi non. Tuy nhiên, khi cân nhắc đồng thời các yếu tố như năng suất, tỷ lệ gãy, hiện tượng thâm nâu sau thu hoạch, hình thái, giá trị dinh dưỡng và lịch gieo trồng vụ mới, thời điểm thu hoạch tối ưu được xác định là giai đoạn từ khi thân lá bắt đầu khô héo đến trước khi củ kết thúc thời kỳ ngủ đông và nảy chồi vào năm sau.
Nguyễn Thị Thu Trang – Lê Huỳnh Thanh Như
NÂNG CAO NĂNG SUẤT HOÀI SƠN (DIOSCOREA PERSIMILIS) TẠI THÁI NGUYÊN THÔNG QUA CẢI TIẾN KỸ THUẬT CANH TÁC
Nguyễn Minh Tuấn và cs.
International Journal of Plant & Soil Science. 2025 May; 37 (6): 76–82
Một trong những thách thức lớn trong canh tác cây hoài sơn (Dioscorea persimilis) là đặc điểm sinh trưởng của củ, do củ phát triển sâu trong đất và kéo dài dọc theo thân, khiến việc thu hoạch gặp khó khăn và dễ gãy nứt khi đào.
Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác đến sinh trưởng và năng suất của cây hoài sơn (D. persimilis) tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, trong giai đoạn 2024–2025. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với ba lần lặp lại và năm công thức xử lý (T1–T5). Các chỉ tiêu theo dõi gồm tỷ lệ nảy mầm, chiều cao cây, đường kính thân, kích thước lá và năng suất củ.
Kết quả cho thấy phương pháp trồng trong bao bố (xử lý T4) cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất (98,0%), chiều cao cây lớn nhất (204,5 cm), cùng với đường kính thân, kích thước lá và khối lượng củ (0,68 kg/củ) đều cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 95%.
Những kết quả này chỉ ra rằng kỹ thuật canh tác sử dụng bao bố giúp tăng trưởng tốt hơn, nâng cao năng suất và hiệu quả thu hoạch của hoài sơn (D. persimilis), qua đó mang lại giải pháp khả thi nhằm cải thiện sản xuất cây hoài sơn tại các vùng miền núi phía Bắc Việt Nam.
Nguyễn Thị Thu Trang
SO SÁNH ĐỘ NHẠY VỚI XỬ LÝ KIỀM CỦA TINH BỘT LOẠI A, B VÀ C TỪ DIOSCOREA ZINGIBERENSIS, DIOSCOREA PERSIMILIS VÀ DIOSCOREA OPPOSITA
Qianqian Jiang và cs.
Food Hydrocolloids. 2014 Aug; 39: 286-294
Nghiên cứu này khảo sát ảnh hưởng của thời gian xử lý kiềm trong 0, 15 và 30 ngày ở 35 °C đến hàm lượng amylose, đặc tính hình thái, đặc tính tinh thể, khả năng trương nở, độ hòa tan, phổ hấp thụ và khả năng tiêu hóa in vitro của tinh bột được tách từ ba loài Dioscorea: D. zingiberensis, D. persimilis và D. opposita.
Kết quả cho thấy hàm lượng amylose của cả ba loại tinh bột giảm sau 15 ngày xử lý kiềm, sau đó tăng trở lại sau 30 ngày xử lý. Độ kết tinh tương đối của tinh bột D. zingiberensis và D. persimilis thay đổi theo xu hướng tương tự nhau. Cả ba loại tinh bột đều thể hiện xu hướng giảm khả năng trương nở, đi kèm với sự gia tăng đáng kể về độ hòa tan.
Quan sát hiển vi cho thấy sự kết dính giữa các hạt tinh bột xuất hiện sau 30 ngày xử lý ở tinh bột D. zingiberensis và D. opposita, trong khi tinh bột D. persimilis cho thấy sự hình thành các hốc rỗng trên bề mặt hạt. Phân tích phổ FT-IR ghi nhận tỷ lệ hấp thụ tại 1047/1035 cm⁻¹ và 1047/1022 cm⁻¹ tăng lên trong quá trình xử lý kiềm đối với tinh bột D. persimilis và D. opposita.
Xử lý kiềm cũng làm tăng khả năng tiêu hóa in vitro vớihàm lượng tinh bột kháng (resistant starch) tăng từ 50,16% lên 64,95% ở D. zingiberensis và từ 66,14% lên 70,74% ở D. persimilis, trong khi tinh bột D. opposita không có sự thay đổi đáng kể.
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CÂY DƯỢC LIỆU HOÀI SƠN TẠI HUYỆN NGUYÊN BÌNH, CAO BẰNG
TNU Journal of Science and Technology. 2025 Jan; 230 (05): 197 – 201
Hoài Sơn là cây dược liệu có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, được phân bố tại nhiều vùng ở Việt Nam, trong đó Cao Bằng là tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất cây dược liệu hoài sơn theo quy mô hàng hóa. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác địch được công thức phân hữu cơ thích hợp đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng cây dược liệu hoài sơn. Dữ liệu thí nghiệm được thực hiện từ năm 2021-2022 tại xã Vũ Minh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại, và bao gồm 3 công thức, trong đó công thức đối chứng không sử dụng phân hữu cơ. Chỉ tiêu về thời gianphát triển, đặc điểm hình thái, đặc điểm củ và năng suất được đánh giá. Kết quả nghiên cứu cho thấy công thức 3 với lượng bón 9 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh kết hợp với 1,3 tấn phân NPK 13:13:13/ha cho kết quả cao nhất về tỷ lệ phát triển (97,3%), kích thước lá (13,7 cm về chiều dài và 7,6 cm về chiều rộng lá) và năng suất đạt 35,8 tấn củ/ha. Từ kết quả trên đưa ra khuyến nghị áp dụng công thức 3 có tác dụng nâng cao hiệu quả trong canh tác cây dược liệu hoài sơn tại Cao Bằng.
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT CHỐNG OXY HÓA VÀ CHẤT HẤP PHỤ KHÁC NHAU ĐẾN HIỆN TƯỢNG HÓA NÂU MÔ CỦA HOÀI SƠN (DIOSCOREA PERSIMILIS)
Li Li Hong và cs.
Anhui Nongye Kexue. 2025; 53(3): 25-28
Cây con nuôi cấy mô của giống hoài sơn (Dioscorea persimilis cv. AnSha) được sử dụng làm vật liệu thí nghiệm nhằm đánh giá ảnh hưởng của bốn chất chống oxy hóa (acid citric, acid ascorbic, acid phytic và nitrat bạc) và hai chất hấp phụ (than hoạt tính – AC và polyvinylpyrrolidon – PVP) đến khả năng chống hóa nâu, sự sinh trưởng và nhân giống trong quá trình cấy chuyền in vitro.
Kết quả cho thấy bốn chất chống oxy hóa không phù hợp để sử dụng làm tác nhân chống hóa nâu. Trong hai loại chất hấp phụ được thử nghiệm, PVP ở nồng độ 0,2 g/L cho thấy hiệu quả tối ưu, giúp giảm đáng kể chỉ số hóa nâu của mẫu cấy và tăng tỷ lệ nảy chồi hiệu quả. Ngược lại, than hoạt tính (AC) không làm giảm đáng kể chỉ số hóa nâu, nhưng giúp giảm tác hại của hiện tượng hóa nâu, đồng thời thúc đẩy sự sinh trưởng và tăng tỷ lệ chồi hữu hiệu.
PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH HÀM LƯỢNG CỦA MƯỜI SÁU NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG TRONG GUANGSHANYAO VÀ HUAISHANYAO
Huang Daoping và cs.
Guangdong Trace Elements Science. 2002 Jan; 9(2): 47-50.
Hàm lượng của mười sáu nguyên tố vi lượng trong Guangshanyao (thân rễ của hoài sơn (Dioscorea persimilis Prain et Burk.) có nguồn gốc từ năm vùng trồng khác nhau và trong Huaishanyao (củ hoài sơn được trồng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) đã được xác định bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) và phương pháp đo phổ hấp thụ quang học.
Kết quả cho thấy hàm lượng của một số nguyên tố vi lượng như Mn, Fe, Zn, Ca, Cu, Mg, P, Se và tỷ lệ Cu/Zn trong Guangshanyao thấp hơn so với giá trị trung bình trong huyết thanh của người bình thường. Những nguyên tố này có thể đóng vai trò là cơ sở vật chất cho các tác dụng dược lý của Guangshanyao, bao gồm hỗ trợ điều trị đại tháo đường, bổ tỳ vị.
Kết quả nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng Guangshanyao như một dược liệu và nhân giống hoài sơn có giá trị y học. Tuy nhiên, một lượng nhất định của các nguyên tố As (thạch tín) và Pb (chì) cũng được phát hiện trong cả Guangshanyao và Huaishanyao.
Trình tự bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của Dioscorea persimilis Prain et Burkill (Dioscoreaceae)
Mitochondrial DNA B Resour. 2020 Jan 9;5(1):451-452.
Dioscorea persimilis thuộc chi Dioscorea, được coi là một trong những loại thực phẩm và thuốc dân gian truyền thống phổ biến nhất ở Trung Quốc. Bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của D. persimilis đã được xác định trong nghiên cứu này. Tổng kích thước bộ gen là 153.219 bp, chứa một cặp lặp lại đảo ngược (IR) dài 25.477 bp, được phân tách bằng bản sao đơn lớn (LSC) và bản sao đơn nhỏ (SSC) lần lượt là 83.448 bp và 18.817 bp. Hàm lượng GC là 37,01%. Tổng cộng có 129 gen được dự đoán bao gồm 84 gen mã hóa protein, tám gen rRNA và 37 gen tRNA. Phân tích cây phát sinh loài của 24 loài trong chi Dioscorea chỉ ra rằng D. persimilis gần với khoai mỡ Trung Quốc hơn, nhưng có mối quan hệ phát sinh loài xa với khoai mỡ Guinea.
Lê Thị Tú Linh
Đa dạng di truyền của khoai mỡ (Dioscorea spp) ở Trung Quốc bằng kết hợp phân tích tính trạng kiểu hình và chỉ thị phân tử
Tianxu C. và cs,
Ecol Evol. 2021, 11. (15):9970-9986
Khoai mỡ là một loại cây có củ và rễ ăn được trên toàn thế giới; Trung Quốc là một trong những nơi bản địa của khoai mỡ có nhiều nguồn tài nguyên địa phương đa dạng. Mục tiêu của nghiên cứu này là làm rõ sự đa dạng di truyền của các giống khoai mỡ bản địa được trồng phổ biến và mối quan hệ di truyền giữa các loài khoai mỡ chính ở Trung Quốc. Trong nghiên cứu này, 26 tính trạng kiểu hình của 112 mẫu giống khoai mỡ từ 21 tỉnh ở Trung Quốc đã được đánh giá và 24 chỉ thị lặp lại trình tự đơn giản (SSR) và 29 chỉ thị đa hình khuếch đại liên quan đến trình tự (SRAP) đã được sử dụng để phân tích đa dạng di truyền. Các tính trạng kiểu hình đã cho thấy Dioscorea opposita có sự đa dạng di truyền cao nhất, tiếp theo là D. alata, D. persimilis , D. fordii và D. esculenta . Trong số 26 tính trạng kiểu hình, chỉ số đa dạng Shannon về hình dạng lá, màu cuống lá và màu thân cây cao và phạm vi biến đổi của các đặc điểm liên quan đến củ ở phần thân ngầm cao hơn ở phần trên mặt đất. Tất cả các mẫu giống được chia thành sáu nhóm bằng phương pháp phân cụm tính trạng kiểu hình, cũng được hỗ trợ bởi phân tích thành phần chính (PCA). Phân tích dấu hiệu phân tử cho thấy các chỉ thị SSR và SRAP có hiệu ứng khuếch đại tốt và có thể đánh giá hiệu quả và chính xác biến thể di truyền của khoai mỡ. Phương pháp nhóm cặp không trọng số với phân tích trung bình số học dựa trên dữ liệu dấu hiệu SSR-SRAP cho thấy 112 mẫu giống cũng được chia thành sáu nhóm, tương tự như kết quả tính trạng kiểu hình. Kết quả phân tích cấu trúc quần thể và PCA dựa trên dữ liệu SSR-SRAP cũng cho kết quả tương tự. Ngoài ra, phân tích nguồn gốc và mối quan hệ di truyền của khoai mỡ chỉ ra rằng loài D. opposita có thể có nguồn gốc từ Trung Quốc. Những kết quả này chứng minh sự đa dạng di truyền và tính khác biệt giữa các loài khoai mỡ Trung Quốc được trồng rộng rãi và cung cấp tài liệu tham khảo lý thuyết cho việc phân loại, chọn giống, cải thiện nguồn gen, sử dụng và bảo hộ giống các nguồn tài nguyên khoai mỡ Trung Quốc.
Khám phá các hoạt chất có hoạt tính chống hội chứng Alzheimer từ Dioscorea hamiltonii: tiếp cận in vivo và in silico
Nazmul Hasan Zilani Md và cs, ChemistrySelect, 2025, 10. 29: e01516.
Cây thuốc có một số hợp chất hoá có tác dụng trong điều trị một số bệnh lý thần kinh, trong đó có hội chứng Alzheimer. Hoài sơn (Discorea halmiltonii) đã được sử dụng sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền. Mục tiêu trong nghiên cứu này nhằm xác định hợp chất tiềm năng trong điều trị hội chứng Alzheimer từ cây hoài sơn. Các thử nghiệm in vivo liên quan đến các bệnh lý thần kinh được nghiên cứu trên chuột bạch. Ngoài ra, một số protein gây ra bệnh Alzheimer đã được đánh giá bằng phương pháp phát triển thuốc dựa trên máy tính. Cao chiết tổng ghi nhận hàm lượng polyphenol tổng số và các flavonoid lần lượt là 21,46 ± 0,14 mg GAE/g và 86,78 ± 0,51 mg QE/g. Thêm vào đó, cao chiết xuất cho thấy giảm tối đa 50% hoạt động của chuột trong bài thử nghiệm lỗ chéo với nồng độ 100 mg/kg và lên tới 82,4% với thử nghiệm ngoài trời. Các hợp chất được xác định có ái lực cao với protein 4EY6, ở mức −11,47 kcal/mol. Tuy nhiên protein 1AAP cho thấy độ ổn định cao nhất với các phối tử đang được nghiên cứu. Ngoài ra, axit caffeoylshikimic được cho là có tác dụng ổn định protein này. Do đó, hoài sơn được coi như là một nguồn dược liệu tiềm năng trong điều trị hội chứng Alzheimer, được chứng minh từ kết quả in vivo và in silico
Nguyễn Hoàng
Phát triển các chỉ thị Lặp Chuỗi Đơn SSR phục vụ đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen các loài củ mài Trung Quốc (Dioscorea spp.) dựa trên dữ liệu cDNA
Hong W. và cs, Horticulturae 2022. 8. (12): 1163.
Củ mài Trung Quốc, với hương vị đậm đà và giá trị dinh dưỡng cao, là một phần thiết yếu của ẩm thực Trung Quốc. Vì Trung Quốc giàu tài nguyên nguồn gen khoai mỡ, nên việc hiểu biết về sự đa dạng di truyền của các giống địa phương là điều quan trọng đối với việc quản lý, bảo tồn, cải tiến và sử dụng bền vững nguồn gen khoai mỡ. Trong nghiên cứu này, hệ thống giải trình tự Illumina Hi-seq 2500 (Illumina, San Diego, CA, Hoa Kỳ) đã được sử dụng để giải trình tự các thư viện cDNA của mô rễ, thân và lá của các loài củ mài Trung Quốc; 14.450 gene giả định (unigene) chứa các vị trí SSR đã được xác định từ tập dữ liệu phiên mã. Khoảng một nửa số SSR là mononucleotide và khoảng 23% là di-nucleotide và tri-nucleotide. Ngoài ra, 100 cặp mồi SSR đã được thiết kế ngẫu nhiên để kiểm chứng tính đa hình. Tổng cộng 32 mẫu nguồn gen được sử dụng trong nghiên cứu đã được xác định bằng 24 cặp mồi. Dựa trên ranh giới sông Tần Lĩnh-Hoài Hà, các nguồn gen phía Bắc và phía Nam được phân chia thành các đơn vị phân loại khác nhau, nhưng không quan sát thấy mô hình địa lý rõ ràng nào ở các nguồn gen phía Nam. 32 nguồn gen cũng được chia thành ba nhóm bằng phương pháp phân tích nhóm, với các mẫu trong cùng một nhóm có đặc điểm hình thái tương tự nhau. 24 chỉ thị SSR mới được xác định này có thể cung cấp cơ sở cho việc định danh di truyền, phân tích đa dạng và chọn lọc hỗ trợ chỉ thị cho họ Ráy (Dioscoreaceae).
Phân tích đa dạng di truyền khoai mỡ (Dioscorea spp.) trồng ở Trung Quốc bằng các chỉ thị ISSR và SRAP
Zhi Gang Wu và cs, Genetic Resources and Crop Evolution, 2014. 61(3), 639-650
Khoai mỡ ( Dioscorea spp.) được trồng rộng rãi ở Trung Quốc và nhiều giống bản địa được nông dân địa phương duy trì. Tuy nhiên, có rất ít thông tin về tính đa dạng và bản sắc loài của chúng. Trong nghiên cứu này, chỉ thị lặp lại trình tự đơn giản (ISSR) và đa hình khuếch đại liên quan đến trình tự (SRAP) đã được sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền trong 21 giống khoai mỡ bản địa từ bảy quần thể được trồng. Chúng tôi quan sát thấy mức độ đa hình cao trong số các giống bản địa này, cụ thể là 95,3% đối với ISSR và 93,5% đối với SRAP. Phân tích phương sai phân tử cho thấy sự biến đổi lớn hơn đáng kể giữa bốn loài khoai mỡ (40,39%) và quần thể của chúng (35,78%) so với trong các quần thể (23,83%). Phương pháp nhóm cặp không trọng số trung bình số học các cụm và phân tích thành phần chính cho 21 giống bản địa đã hình thành bốn nhóm tách biệt rõ ràng chứa các giống bản địa của mỗi loài trong bốn loài, cụ thể là Dioscorea opposita Thunb., Dioscorea alata L., Dioscorea persimilis Prain et Burkill và Dioscorea fordii Prain et Burkill. Các đoạn mồi ISSR và SRAP có khả năng phân biệt cao giữa 21 giống bản địa; tất cả 21 giống bản địa đều có thể dễ dàng phân biệt bằng các đoạn mồi này. Giá trị trung bình của dòng gen ( Nm = 0,1081) ước tính từ sự phân hóa di truyền cao ( Gst = 0,8222) cho thấy dòng gen giữa các quần thể tương đối hạn chế. Việc thiếu sự đa dạng di truyền trong từng loài khoai mỡ cho thấy việc phát triển các chiến lược dài hạn để tăng cường đa dạng di truyền trong các loài khoai mỡ khác nhau là rất quan trọng.
Nguyễn Thị Thu Hằng
Nâng cao năng suất Dioscorea persimilis tại Thái Nguyên thông qua cải tiến công nghệ canh tác
Nguyen Minh Tuan, Le Quang Ung
International Journal of Plant & Soil Science, 2025, 37(6), 76-82
Một trong những thách thức lớn của việc canh tác cây hoài sơn (Dioscorea persimilis) là đặc điểm sinh trưởng của củ: phát triển sâu trong đất và lan dài theo thân ngầm, gây khó khăn trong thu hoạch và dễ bị gãy vỡ khi đào. Thí nghiệm được tiến hành nhằm đo lường ảnh hưởng của công nghệ canh tác đến sự sinh trưởng và năng suất cây thuốc Hoài Sơn (Dioscorea persimilis) tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên từ năm 2024 đến năm 2025. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD), gồm 5 nghiệm thức (T1–T5), mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: tỷ lệ nảy mầm, chiều cao cây, đường kính thân, diện tích lá và khối lượng củ. Kết quả cho thấy nghiệm thức T4 — trồng trong bao gai — đạt tỷ lệ nảy mầm cao nhất (98,0%), chiều cao cây trung bình 204,5 cm, đồng thời cho đường kính thân, diện tích lá và khối lượng củ (0,68 kg/củ) vượt trội so với đối chứng, với độ tin cậy 95% (α = 0,05). Nghiên cứu khẳng định rằng việc áp dụng bao gai trong canh tác hoài sơn không chỉ thúc đẩy sinh trưởng cây mà còn nâng cao hiệu quả và độ an toàn trong thu hoạch, góp phần giảm tổn thất sau thu, từ đó đề xuất một giải pháp kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp và phù hợp để phát triển sản xuất hoài sơn bền vững tại các vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam.
Nguyễn Khương Duy, Nguyễn Tố Uyên
Polysaccharide chiết từ Dioscorea persimilis cải thiện bệnh viêm loét đại tràng do dss gây ra trên chuột thông qua điều hòa thành phần hệ vi sinh vật đường ruột
Qian Z. và cs, Journal of Holistic Integrative Pharmacy, 2023, 4(2), 157-165
Viêm loét đại tràng (Ulcerative colitis – UC) là một bệnh viêm ruột mạn tính không đặc hiệu, có tỷ lệ tái phát cao; do đó, việc phát triển các phương pháp điều trị mới với hiệu quả cao và ít tác dụng phụ vẫn đang là nhu cầu cấp thiết. Dioscorea persimilis là loài cây ăn được, từ lâu đã được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền Trung Quốc như một vị thuốc hỗ trợ điều trị các bệnh lý đường tiêu hóa. Các polysaccharide đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ trên mô hình UC; tuy nhiên, vai trò của polysaccharide chiết từ D. persimilis trong bệnh lý này vẫn chưa được nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, polysaccharide tinh chế từ D. persimilis (DP) — gồm hai đơn vị đường chính là glucose và galactose — đã được chiết xuất và làm sạch bằng phương pháp phân chia ba pha (three-phase partitioning, TPP). Các đặc tính hóa học và cấu trúc sơ cấp của DP được xác định bằng quang phổ UV, phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR), sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và sắc ký thấm gel hiệu năng cao (HPGPC). Trên mô hình chuột gây viêm loét đại tràng bằng dextran sulfate sodium (DSS), tác dụng cải thiện UC của DP đã được đánh giá. Kết quả cho thấy DP làm giảm tổn thương mô bệnh học ở đại tràng, tăng cường khả năng chống oxy hóa tại mô ruột và điều hòa đáp ứng viêm ở chuột mắc colitis. Hơn nữa, giải trình tự gen 16S rDNA từ mẫu phân cho thấy DP có khả năng phục hồi đa dạng và thành phần hệ vi sinh vật đường ruột, đặc biệt làm tăng đáng kể mức độ phong phú của các chi Acetatifactor, họ Lachnospiraceae và chi Lactobacillus, đồng thời nâng cao tỷ lệ Firmicutes/Bacteroidetes. Nghiên cứu này cho thấy DP có tiềm năng trở thành một chế phẩm bổ sung dinh dưỡng triển vọng trong hỗ trợ điều trị viêm đại tràng.
Nguyễn Khương Duy
Phương pháp canh tác ảnh hưởng đến cấu trúc tinh bột và các tính chất lý - hóa của củ mài (Dioscorea persimilis)
Yao X. và cs, International Journal of Biological Macromolecules, 2023, 242(2), 125004
Các loài Dioscorea (Dioscorea spp.) là nguồn thực phẩm quan trọng tại nhiều quốc gia nhờ có chứa nhiều tinh bột (60 %–89 % khối lượng khô) và chứa đa dạng các nhóm vi chất thiết yếu. Mô hình Canh tác Siêu gen Định hướng (OSC) là phương thức trồng trọt đơn giản, hiệu quả được phát triển tại Trung Quốc trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tác động của nó đến tinh bột của các loài Dioscorea vẫn chưa được nghiên cứu rõ. Nghiên cứu này so sánh chi tiết năng suất củ tinh bột, cấu trúc và tính chất lý hóa của tinh bột giữa OSC và Canh tác thẳng đứng truyền thống (TVC) trên giống Dioscorea persimilis “zhugaoshu” – một giống phổ biến. Kết quả cho thấy OSC tăng năng suất củ đáng kể (23,76 %–31,86 %) và cải thiện chất lượng thương phẩm (vỏ mịn hơn) so với TVC trong ba năm trồng thử nghiệm liên tiếp. Hơn nữa, OSC làm tăng hàm lượng amylopectin (2,7 %), tinh bột kháng (5,8 %), đường kính trung bình hạt (14,7 %) và độ kết tinh trung bình (9,5 %), đồng thời giảm khối lượng phân tử tinh bột (Mw). Những tính trạng này dẫn đến tinh bột có nhiệt độ chuyển tiếp thấp hơn (To, Tp, Tc, ΔHgel) nhưng khả năng hồ hóa cao hơn (PV, TV). Kết quả của chúng tôi đã chứng minh mô hình canh tác ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và tính chất lý hóa của tinh bột củ mài. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cơ sở thực tiễn để thúc đẩy OSC, mà còn mang lại thông tin giá trị nhằm định hướng ứng dụng tinh bột của các loài Dioscorea trong công nghiệp thực phẩm và phi thực phẩm.
Đào Việt Quốc, Đặng Quốc Tuấn
Chiến lược bảo tồn và sử dụng nguồn gen toàn cầu cho các loài Dioscorea (Củ mài)
Michael Ugochukwu Nduche và cs.
Biodiversity and Conservation, 2024. 33. 4155 – 4176.
Chiến lược bảo tồn và sử dụng nguồn gen toàn cầu cho các loài Dioscorea đã được xây dựng trong nghiên cứu này. Phân tích đa dạng và đánh giá khoảng trống bảo tồn in situ và ex situ đã được tiến hành cho 27 loài CWR (họ hàng hoang dại của cây trồng) ưu tiên toàn cầu ở cả cấp độ phân loại và sinh thái - địa lý nhằm xác định mức độ đại diện của chúng trong các hoạt động bảo tồn. Các điểm nóng đa dạng được ghi nhận tại vùng Nzérékoré (Guinea), các vùng Nimba và Grand Gedeh (Liberia), Montagnes, Sassandra–Marahoué và Bas–Sassandra (Bờ Biển Ngà), Volta, Greater Accra và Eastern (Ghana), Centrale và Plateau (Togo); các tỉnh Donga, Ouémé, Atlantique, Littoral và Plateau (Benin); khu vực Tây Nam (Nigeria); vùng Est (Cameroon); vùng Sangha–Mbaéré (Cộng hòa Trung Phi); các vùng Likouala và Sangha (Cộng hòa Congo); Đông Bắc Ấn Độ; miền Bắc, Trung, Tây, Đông và Đông Bắc Thái Lan; phía Tây Campuchia; Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Mekong (Việt Nam); cùng các tỉnh Xaisomboun, Bolikhamxai và Viangchan (Lào). Tổng cộng 13 khu vực có tiềm năng thiết lập khu bảo tồn đã được xác định tại 13 quốc gia, trong đó bốn khu nằm trong mạng lưới các khu bảo vệ (PA). Có 22 loài CWR ưu tiên (81%) đã được bảo tồn ex situ, nhưng chỉ 15,38% số taxon có tối thiểu 50 mẫu giống trong ngân hàng gen; 65,38% CWR ưu tiên vẫn đang được đại diện không đầy đủ, và 19,23% loài chưa hề có mặt trong các tập hợp ex situ. Các kết quả và khuyến nghị của nghiên cứu sẽ hỗ trợ xây dựng và triển khai các chiến lược bảo tồn dài hạn hiệu quả, đồng thời thúc đẩy việc sử dụng bền vững CWR các loài Dioscorea ưu tiên trên toàn cầu. Việc bảo tồn chủ động các loài Dioscorea ưu tiên này đóng vai trò nền tảng đối với an ninh lương thực và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
Đào Việt Quốc
Hợp chất phenanthrenes và phenolic gây độc tế bào có nguồn gốc từ Dioscorea persimilis
Ngan, N.T.T. và cs.Phytochemistry Letters. 2020. 40:139-143.
Củ của cây hoài Sơn (Dioscorea persimilis) được sử dụng rộng rãi như một loại thực phẩm và để điều trị chứng suy nhược cơ thể, bệnh đường ruột, tiêu chảy, kiết lỵ kéo dài, xuất tinh ra máu, viêm tử cung, suy thận, đau lưng, chóng mặt và đổ mồ hôi đêm. Nghiên cứu hiện tại mô tả quá trình phân lập 11 chất chuyển hóa thứ cấp, bao gồm ba hợp chất phenanthrene mới là diospersimilosides A (1) và B (2) và diosbiphenanthrene (3), và tám hợp chất phenolic đã biết: 2,4,6,7-tetrahydroxy-9,10-dihydrophenanthrene (4), aerosin (5), gastrodin (6), 2-phenylethyl-β- d -glucopyranoside (7), afzelechin (8), catechin (9), axit eucomic (10), và axit vanillic-4- O -β- d -glucopyranoside (11) từ củ của D. persimilis. Cấu trúc hóa học của chúng được làm sáng tỏ dựa trên các phân tích toàn diện về phổ NMR và phổ khối. Đánh giá độc tính tế bào của chúng đối với ba dòng tế bào ung thư ở người, bao gồm gan (HepG2), vú (MCF7) và u hắc tố (SK-Mel-2) cho thấy các chất chuyển hóa phenanthrene (3 - 5) có độc tính đối với tất cả các dòng tế bào, với giá trị IC50 dao động từ 8,2–68,4 μM. Kết quả của chúng tôi chứng tỏ nhóm hydroxy tự do đóng vai trò quan trọng trong độc tính tế bào của phenanthrene và cho thấy các chất chuyển hóa dihydrophenanthrene và biphenanthrene đã được hydroxy hóa có thể được coi là tác nhân gây độc tế bào đầy hứa hẹn đối với các tế bào ung thư ở người.
Đặng Quốc Tuấn
Những virus gây bệnh khoai mỡ (Dioscorea spp.): Những lỗ hổng kiến thức hiện tại và hướng nghiên cứu trong tương lai để cải thiện việc quản lý bệnh
Diouf M.B. và cs.
Viruses 2022, 14 (9): 1884
Tóm tăt
Virus là một rào cản lớn đối với sản xuất hoài sơn trên toàn thế giới. Chúng cản trở việc bảo tồn, di chuyển và trao đổi nguồn gen, đồng thời là mối đe dọa đối với an ninh lương thực ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Phi và Thái Bình Dương, nơi hoài sơn là lương thực chính và là nguồn thu nhập. Tuy nhiên, sinh học và tác động của virus hoài sơn vẫn còn nhiều điều chưa được biết đến. Bài tổng quan này kiến thức hiện tại về virus hoài sơn và nhấn mạnh những thiếu sót trong kiến thức về sinh học của các loại virus này, chẩn đoán và tác động của chúng đến sản xuất. Bài viết cung cấp thông tin thiết yếu để hỗ trợ việc triển khai các chiến lược kiểm soát virus hiệu quả hơn.
Tác động của công nghệ chọn lọc tích cực đến năng suất khoai mỡ
Osei-Adu J. và cs. Heliyol, 2024. 10. 9: e30397
Kỹ thuật “chọn lọc tích cực” (PS) đã được chứng minh là làm giảm nhiễm virus và tăng năng suất, tuy nhiên chưa có đủ bằng chứng thực nghiệm về tác động của công nghệ này đến năng suất của các vùng trồng hoài sơn giống. Nghiên cứu này đã sử dụng kỹ thuật “Ghép điểm Xu hướng” (PSM) để đánh giá tác động của PS đến năng suất hoài sơn giống của 368 nông dân được chọn ngẫu nhiên từ Ghana và Nigeria. Kết quả cho thấy trình độ học vấn, khoảng cách từ trang trại đến chợ gần nhất, mô hình canh tác và các yếu tố khác đã ảnh hưởng đến việc áp dụng PS của nông dân. Hơn nữa, việc áp dụng công nghệ PS đã giúp tăng 16,98% năng suất trồng trọt cho nông dân trồng hoài sơn giống PS so với năng suất của họ khi không áp dụng công nghệ. Điều rất quan trọng là việc áp dụng PS phải được hỗ trợ bằng cách phát triển các tài liệu đào tạo phù hợp cho nông dân để cải thiện việc sử dụng công nghệ PS.
Mondo JM. và cs.PloS one, 2024.19. 9: e0309775.
Thời vụ trồng truyền thống cho loài hoài sơn (Dioscorea spp.) ở Nam Kivu, miền đông Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC), ngày càng trở nên không phù hợp do sự biến đổi khí hậu đáng kể được quan sát thấy trong ba thập kỷ qua. Nghiên cứu này nhằm mục đích: (i) đánh giá xu hướng dữ liệu thời tiết theo thời gian và không gian để xác định biến đổi khí hậu và (ii) tối ưu hóa lịch trồng hoài sơn cho các vùng sinh thái nông nghiệp (AEZ) khác nhau của Nam Kivu để thích ứng với biến đổi khí hậu. Chuỗi dữ liệu thời tiết 1990- 2022 được tải xuống từ nền tảng NASA-MERRA, hiệu chỉnh độ lệch được thực hiện bằng cách sử dụng hồ sơ của các trạm thời tiết địa phương và phân tích được thực hiện bằng RClimDex 1.9. Kiến thức địa phương và CROPWAT 8.0 được sử dụng để xác định ngày trồng hoài sơn ở các AEZ khác nhau. Kết quả cho thấy sự tồn tại của bốn AEZ ở tỉnh Nam Kivu, với độ cao, nhiệt độ và kiểu mưa tương phản. Biến đổi khí hậu là có thật trong tất cả các AEZ của Nam Kivu, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lượng mưa ở một số khu vực hoặc các trận mưa cực đoan ở những khu vực khác, với nhiệt độ tăng đáng kể trên tất cả các AEZ. Ngày trồng hoài sơn thích hợp thay đổi tùy theo AEZ, ngày 15 và 20 tháng 9 được khuyến nghị cho AEZ 2 trong khi ngày 15 tháng 10 là ngày tối ưu cho AEZ 1, AEZ 3 và AEZ 4. Tuy nhiên, không có kịch bản ngày trồng nào có thể đáp ứng được nhu cầu nước cho hoài sơn ở AEZ1, AEZ3 và AEZ4, vì lượng mưa hiệu dụng (Pmm) luôn thấp hơn nhu cầu nước của cây trồng (ETc), có nghĩa là cần phải thực hành bảo tồn nước trong đất để cây trồng sinh trưởng và phát triển tối ưu ở các AEZ này. Nghiên cứu này không khuyến nghị trồng hoài sơn trong mùa mưa ngắn do hạn hán kéo dài trùng với các giai đoạn sinh trưởng quan trọng của hoài sơn, trừ khi có dự kiến tưới bổ sung. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về bản chất của biến đổi khí hậu trong ba thập kỷ qua và đề xuất lịch trồng hoài sơn phù hợp với khí hậu thay đổi của miền đông DRC.
Đánh giá tính thích hợp về mặt nông sinh thái của cây khoai mỡ trong điều kiện biến đổi khí hậu trong tương lai
Fan D. Và cs.
Environmental Geochemistry and Health, 2020. 42. (3): 987-1000.
Hoài sơn làm thuốc của Trung Quốc (CMY) đã được các thầy thuốc Đông y Trung Quốc kê đơn làm thuốc y học cổ truyền từ hàng ngàn năm nay. Theo tài liệu y học cổ truyền Trung Quốc, lợi ích y học của nó bao gồm bổ tỳ, bổ phế, bổ thận, v.v. Khi mức sống tăng lên và nhận thức về sức khỏe cộng đồng được cải thiện trong những năm gần đây, những lợi ích y học tiềm năng của hoài sơn đã thu hút sự chú ý ngày càng tăng ở Trung Quốc. Người ta nhận thấy rằng biến đổi khí hậu được quan sát thấy trong vài thập kỷ qua, cùng với sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, đã thúc đẩy sự thay đổi đáng kể trong mô hình diện tích trồng hoài sơn truyền thống. Việc xác định diện tích trồng hoài sơn phù hợp trong tương lai gần là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng và nguồn cung hoài sơn, định hướng phát triển ngành hoài sơn và bảo vệ sự phát triển bền vững của nguồn tài nguyên hoài sơn vì sức khỏe cộng đồng. Trong nghiên cứu này, trước tiên chúng tôi thu thập hồ sơ 30 năm về các giống hoài sơn và các quan sát khí tượng nông nghiệp tương ứng của chúng. Sau đó, chúng tôi tổng hợp những dữ liệu này và sử dụng chúng để làm phong phú và cập nhật các thông số sinh thái - sinh lý của hoài sơn trong mô hình vùng sinh thái nông nghiệp (AEZ). Các giống CMY cập nhật và mô hình AEZ được xác thực bằng cách sử dụng diện tích trồng và sản lượng lịch sử trong điều kiện khí hậu quan sát được. Sau khi xác thực thành công, chúng tôi sử dụng mô hình AEZ cập nhật để mô phỏng năng suất tiềm năng của CMY và xác định các vùng trồng phù hợp theo dự báo khí hậu trong tương lai tại Trung Quốc. Nghiên cứu này cho thấy các vùng có tính tương đồng sinh thái cao với các vùng sản xuất CMY chính thống và cốt lõi chủ yếu phân bố ở phía đông Hà Nam, đông nam Hà Bắc và tây Sơn Đông. Khả năng thích nghi khí hậu của những khu vực này sẽ được cải thiện do hiện tượng nóng lên toàn cầu trong 50 năm tới, và do đó, chúng sẽ tiếp tục là những vùng trồng CMY phù hợp nhất.
Ảnh hưởng của việc xen canh cây khoai mỡ/cây họ đậu đến tính chất hóa học và sinh học của đất trồng khoai mỡ
Yue-meng ZHANG và cs. Chinese Journal of Applied Ecology 2018. 29. (12): 4071-4079.
Chúng tôi đã phát hiện ảnh hưởng của xen canh (Dioscorea spp.) trồng cây hoài sơn với cây họ đậu lên các đặc tính hóa học và sinh học của đất cũng như độ phì nhiêu toàn diện của đất trong một thí nghiệm thực địa. Kết quả đã cho thấy rằng so với trồng độc canh, cả xen canh hoài sơn /cỏ linh lăng và hoài sơn /cỏ ba lá đều làm tăng nồng độ nitơ nitrat (N), phốt pho khả dụng (P) và kali khả dụng (K) ở các lớp đất 0 - 20 cm và 20 - 40 cm, trong khi làm giảm độ pH của đất và độ dẫn điện (EC) trong giai đoạn đầu sinh trưởng và giai đoạn thân rễ phát triển nhanh của hoài sơn. Xen canh với cây họ đậu làm tăng hoạt động của urease, phosphatase kiềm và catalase, đồng thời cũng tăng cường hô hấp cơ bản của đất ở các lớp đất 0- 20 cm và 20- 40 cm trong suốt thời kỳ sinh trưởng của hoài sơn. Không có ảnh hưởng của xen canh lên hoạt tính của sucrase đất và hoạt tính của dehydrogenase. Tác động của xen canh với cây họ đậu lên độ phì nhiêu của đất khi thu hoạch khoai mỡ đã được phân tích thêm bằng kết hợp mô hình hàm thành viên và phân tích thành phần chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc xen canh với cây họ đậu có thể làm tăng đáng kể độ phì nhiêu toàn phần của đất ở tầng đất 0- 20 cm và 20- 40 cm. Do đó, đây có thể là một biện pháp hiệu quả để cải thiện độ phì nhiêu của đất và chất lượng môi trường, cũng như giảm thiểu những trở ngại cho việc canh tác hoài sơn liên tục thông qua việc tăng cường đa dạng sinh học đất.
Herba Siegesbeckiae: Tổng quan về công dụng truyền thống, thành phần hóa học, hoạt tính dược lý và các nghiên cứu lâm sàng
Wang Q Và cs. , Journal of Ethnopharmacology, 2021, 275(15), 114117
Sự liên quan về dược lý dân tộc: Herba Siegesbeckiae, chủ yếu bao gồm các loài Sigesbeckia orientalis L, Sigesbeckiae pubescens Makino và Sigesbeckiae glabrescens Makino. Herba Siegesbeckiae, còn được gọi là 'Xi-Xian Cao' (tiếng Trung: 豨莶草)- hy thiêm thảo, đã được coi là một loại thuốc thảo dược truyền thống quan trọng của Trung Quốc kể từ thời nhà Đường. Các bộ phận trên mặt đất khô của dược liệu cũng đang được sử dụng như một loại thuốc thảo dược ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Ở Trung Quốc, Dược liệu hy thiêm đã được sử dụng để điều trị chứng đau khớp thấp khớp với tình trạng đau nhức và yếu ở thắt lưng và đầu gối, cũng như tê liệt các chi.
Mục đích
Mục đích của bài đánh giá này là cung cấp phân tích quan trọng về bằng chứng khoa học để hỗ trợ cho các công dụng truyền thống của dược liệu hy thiêm. Thông tin có sẵn về đặc điểm thực vật, công dụng truyền thống, thành phần hóa học, hoạt tính dược lý, nghiên cứu lâm sàng, độc tính và kiểm soát chất lượng đã được để hiểu được nghiên cứu hiện tại và cung cấp thông tin cho nghiên cứu trong tương lai.
Vật liệu và phương pháp
Các thuật ngữ tìm kiếm “Herba Siegesbeckiae”, “Sigesbeckia orientalis”, “Sigesbeckia pubscens” và “ Sigesbeckia glabrescens ” đã được sử dụng để lấy thông tin từ các cơ sở dữ liệu điện tử như Web of Science, China National Knowledge Infrastructure, PubMed, Google Scholar và SciFinder Scholar và các công cụ tìm kiếm web khác (Springer, Yahoo search). Thông tin được cung cấp trong bài đánh giá này dựa trên các bài báo được bình duyệt ngang hàng bằng tiếng Anh và tiếng Trung. Bên cạnh đó, thông tin cũng được thu thập từ các tài liệu cổ.
Các nghiên cứu cho thấy Herba Siegesbeckiae chứa sesquiterpenoid , diterpenoid, flavonoid và axit hữu cơ, v.v. Nhờ các thành phần này, nó thể hiện nhiều hoạt tính dược lý, chẳng hạn như hoạt tính chống viêm, chống khối u, chống dị ứng, chống oxy hóa, chống huyết khối và kháng khuẩn. Ngoài ra, nó còn cho thấy tác dụng bảo vệ tổn thương do thiếu máu cục bộ cơ tim và não.
Theo công dụng truyền thống, thành phần hóa học, hoạt tính dược lý và nghiên cứu lâm sàng, Dược liệu hy thiêm được coi là một loại cây thuốc đầy hứa hẹn với nhiều hợp chất hóa học và nhiều hoạt tính dược lý. Tuy nhiên, một số nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào độc tính và nghiên cứu định lượng về 3 loài. Điều này cho thấy rằng nghiên cứu sâu hơn về độc tính và kiểm soát chất lượng là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của thuốc trong tương lai.
Chiết xuất Sigesbeckia orientalis L. làm giảm viêm khớp do collagen loại II gây ra thông qua ức chế tăng sản hoạt dịch và viêm do nhiều tác động
Linghu KG và cs. Frontiers trong dược học, 2020. Tập 11: 547913.
Sự tăng sinh quá mức và tình trạng viêm của nguyên bào sợi hoạt dịch đẩy nhanh và trang trí quá trình bệnh lý của viêm khớp dạng thấp (RA). Hy thiêm (Sigesbeckia orientalis L.) (SO) là một trong những nguồn nguyên liệu chính của dược liệu hy thiêm (SH) đã được sử dụng theo truyền thống để điều trị nhiều dạng viêm khớp và đau thấp khớp. Tuy nhiên, cơ chế chống viêm khớp của SO vẫn chưa được hiểu rõ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã nghiên cứu các tác dụng điều trị và cơ chế cơ bản của SO đối với RA do collagen loại II (C II) gây ra ở chuột cũng như các tế bào SW982 và MH7A hoạt dịch của người do interleukin (IL)-1β gây ra. Đối với các nghiên cứu in vivo, ba mươi sáu con chuột đực Wistar được phân ngẫu nhiên thành sáu nhóm dựa trên trọng lượng cơ thể, sau đó được gây ra bởi C II đối với mô hình RA trong 15 ngày, sau đó được điều trị bằng chiết xuất ethanol 50% của SO (SOE, 0,16, 0,78 và 1,56 g/kg) trong 35 ngày. Kết quả cho thấy SOE ức chế đáng kể sự hình thành pannus (tăng sản hoạt dịch ở khoang khớp) và làm giảm tình trạng tổn thương sụn và xói mòn xương ở các khớp bàn chân sau của chuột do CIA gây ra. Hơn nữa, SOE làm giảm sản xuất protein phản ứng C (CRP) trong huyết thanh và biểu hiện IL-6 và IL-1β trong cơ khớp, cũng như phục hồi các tế bào lympho T điều hòa đã giảm. Kết quả thu được từ các nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy SOE (50, 100 và 200 µg/ml) không chỉ ức chế sự tăng sinh, di cư và xâm lấn của các tế bào SW982 hoạt dịch ở người mà còn làm giảm biểu hiện IL-6 và IL-8 do IL-1β gây ra ở cả tế bào SW982 và MH7A. Bên cạnh đó, SOE làm giảm biểu hiện COX-2, NLRP3 và MMP9, đồng thời làm tăng biểu hiện MMP2 trong các tế bào SW982 do IL-1β gây ra. Hơn nữa, SOE đã ngăn chặn sự hoạt hóa của NF-κB và làm giảm sự phosphoryl hóa của MAPK và biểu hiện của AP-1. Tóm lại, SOE làm giảm RA do C II gây ra thông qua việc ức chế tăng sản hoạt dịch và viêm do MAPK/NF-κB/AP-1 làm trung gian.
Chất lượng củ Dioscorea persimilis thu hoạch ở các giai đoạn khác nhau
ZHANG W và cs.
Fujian Journal of Agricultural Sciences, 2021. 36. (11): 1264-1271.
:
Mục tiêu: So sánh chất lượng củ hoài sơn tại các thời điểm thu hoạch khác nhau.
Phương pháp: Củ từ giống hoài sơn địa phương Ninghua được thu hoạch thành 9 đợt từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 5 tháng 5 năm sau. Các chỉ tiêu chất lượng bao gồm tốc độ sấy, protein, tinh bột, axit amin, đường hòa tan, sucrose, polysaccharide thô, allantoin và phenol tổng số của củ đã được xác định. Phân tích so sánh và tương quan bội đã được thực hiện trên dữ liệu để phân tích.
Kết quả: Ngày 20 tháng 10, khi quá trình tích lũy sinh khối trong củ thường gần hoàn tất trong một năm, hàm lượng đường hòa tan, sucrose và polysaccharide thô đạt mức cao, lần lượt là 5,69%, 5,29% và 2,73%. Củ được thu hoạch vào thời điểm đó thường có vị ngon hơn, nhưng hàm lượng phenol tổng số thường cao, khiến chúng phù hợp hơn để tiêu thụ tươi. Trong khi đó, củ được thu hoạch vào khoảng ngày 5 tháng 12 khi thân và lá đã héo phần lớn và củ được thu hoạch từ ngày 15 tháng 3, thời điểm củ đã kết thúc giai đoạn ngủ đông, cho đến ngày 10 tháng 4, khi quá trình nảy mầm đã bắt đầu, có tỷ lệ sấy khô là 33,84%-35,50% cùng với hàm lượng tinh bột, protein, allantoin, tổng axit amin, axit amin thiết yếu và axit amin hương vị lần lượt lên tới 73,14%-78,12%, 6,33%-6,51%, 3,95-4,29 mg·g−1, 48,5-50,8 mg·g−1, 15,0-15,5 mg·g−1 và 18,9-20,2 mg·g−1. Hàm lượng polysaccharides trong củ thu hoạch từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 10 tháng 4 cao hơn 2,92%. Sự thay đổi thành phần này dẫn đến chất lượng ăn được mong muốn hơn của củ được thu hoạch trong hai giai đoạn này. Ngoài ra, sự thay đổi này cũng làm giảm tỷ lệ củ bị gãy trong và sau khi thu hoạch. Ngược lại, việc thu hoạch củ vào khoảng ngày 10 tháng 11 và từ cuối tháng 12 đến tháng 3 năm sau sẽ dẫn đến việc tăng tỷ lệ sấy lên trên 36%, khiến củ dễ gãy hơn sau khi hái, chỉ phù hợp để chế biến tiếp. Trong khoảng thời gian từ ngày 10 tháng 4 đến ngày 5 tháng 5, khi chồi mới bắt đầu xuất hiện, chất lượng dinh dưỡng và hình thức trở nên kém hấp dẫn hơn, và hàm lượng phenol tổng số trên củ tăng lên mức cao, việc trồng vụ sau bị gián đoạn và việc thu hoạch củ được coi là không phù hợp.
Kết luận: Tùy thuộc vào nhu cầu tiêu thụ tươi của thị trường hoặc nhu cầu chế biến tiếp theo, củ hoài sơn có thể được thu hoạch từ khi tích lũy sinh khối hoàn tất cho đến khi chồi mới bắt đầu nảy mầm. Tuy nhiên, khi xét đến năng suất củ, hiện tượng gãy, chuyển sang màu nâu sau thu hoạch, hình thức, chất lượng dinh dưỡng và thời điểm trồng vụ mới của hoài sơn, thời điểm thu hoạch tối ưu sẽ rơi vào khoảng thời gian giữa lúc thân và lá trên cây héo và khi thời kỳ ngủ đông của củ kết thúc trước khi chồi mới bắt đầu xuất hiện vào năm sau.
Phạm Văn Năm
Dioscorea opposita là một loại cây trồng có củ quan trọng do có thể dùng làm thực phẩm và làm thuốc. Kỹ thuật nuôi cấy mô cho phép nhân nhanh các mô thực vật không nhiễm virus. Việc sử dụng củ nhỏ làm vật liệu là một giải pháp thay thế cho vật liệu là củ lớn được nuôi cấy in vitro để nhân giống và tạo ra giống hoài sơn khỏe mạnh. Nghiên cứu này đã phát triển một quy trình sản xuất củ nhỏ hoài sơn làm vật liệu in vitro. Mặc dù chúng tôi đã thử nghiệm cả quy trình một bước và hai bước, nhưng chỉ có quy trình hai bước cho kết quả khả quan về sự hình cây con. Môi trường có 60 g L(-1) sucrose cho chỉ số củ nhỏ hình thành cao nhất. Chúng tôi chứng minh rằng đường ăn là một giải pháp thay thế hiệu quả và tiết kiệm cho sucrose loại phân tích để sản xuất củ con. Sử dụng thiết kế thí nghiệm trực giao, chúng tôi đã xác định được sự kết hợp chất điều hòa sinh trưởng tối ưu cho quá trình cảm ứng và phát triển củ con. Các củ con thu được từ quy trình của chúng tôi sinh trưởng dễ dàng cả in vitro và trong đất.
Khi những tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt ngay cả ở các vùng ôn đới, việc đa dạng hóa cây trồng là vô cùng cấp thiết để giải quyết nạn đói và suy dinh dưỡng. Điều này đã dẫn đến việc đánh giá lại các loài bị lãng quên như hoài sơn, một loài cây đã được trồng hàng thế kỷ ở Đông Á như một loại cây lương thực và là một thành phần được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Trung Quốc. Củ hoài sơn giàu dinh dưỡng, nhưng cũng chứa các chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học như tinh bột kháng, sapogenin steroid (như diosgenin), protein dự trữ dioscorin và polysaccharid nhầy. Những sản phẩm tăng cường sức khỏe này có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, tiểu đường và các rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột. Trong khi hầu hết các loại hoài sơn ăn được đều là loài nhiệt đới, hoài sơn có thể được trồng rộng rãi ở châu Âu và các vùng ôn đới khác để tận dụng các đặc tính dinh dưỡng và hoạt tính sinh học của nó. Tuy nhiên, đây là một quá trình tốn công sức và kiến thức nông học còn hạn chế. Củ hoài sơn dưới lòng đất chứa hầu hết tinh bột, nhưng dễ bị vỡ và do đó khó thu hoạch. Việc lai tạo để cải thiện hình dạng củ rất phức tạp do đặc tính hai tính trạng của loài, sinh sản chủ yếu bằng củ con và sự hiện diện của hơn 100 nhiễm sắc thể. Các quy trình nuôi cấy in vitro và chuyển gen vẫn chưa được thiết lập, điều này hạn chế phạm vi nghiên cứu. Bài viết này bối cảnh nghiên cứu còn ít ỏi và đánh giá các ứng dụng dinh dưỡng và y học của hoài sơn. Bằng cách làm nổi bật tiềm năng của củ hoài sơn, chúng tôi mong muốn khuyến khích việc áp dụng loại cây trồng mồ côi này như một loại thực phẩm chức năng mới.
HỢP CHẤTDITERPENE MỚI VÀ CÁC SESQUITERPENE LACTON CÓ TÁC DỤNG CHỐNG VIÊM TỪ CÂY HY THIÊM (SIGESBECKIA ORIENTALIS)
Nora S. Engels và cs.
Planta Med 2020; 86(15): 1108-1117
Sigesbeckia orientalis trong y học cổ truyền Trung Quốc thường được gọi là Herba Sigesbeckiae hoặc Tích tiêu thảo (Xi Xian Cao) và trong y học cổ truyền Việt Nam được gọi là hy thiêm, được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc và Việt Nam để điều trị các bệnh viêm như viêm khớp, thấp khớp và đau khớp. Trong các nghiên cứu thăm dò, cao chiết dichloromethan từ phần trên mặt đất của S. orientalis cho thấy khả năng ức chế rõ rệt đối với sự giải phóng interleukin-8 (IL-8) ở bạch cầu trung tính người. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu là xác định được thành phần của chiết xuất có hoạt tính này, đồng thời đánh giá tác dụng in vitro của các hợp chất phân lập được đối với sự giải phóng interleukin-8 (IL-8), interleukin-1β (IL-1β), yếu tố hoại tử khối u (TNF-α) và giải phóng protein 1 hóa ứng động bạch cầu đơn nhân (MCP-1), và biểu hiện bề mặt của các phân tử bám dính (CD11a, CD11b và CD62L) trong các tế bào bạch cầu trung tính người kích thích bằng lipopolysaccharid (LPS), nhằm xác định thành phần hoạt chất chính. Phân tách chiết xuất dichloromethan có hoạt tính sinh học bằng nhiều kỹ thuật sắc ký khác nhau đã thu được chín hợp chất. Cấu trúc hóa học của chúng được xác định dựa trên dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và phổ khối (MS). Trong đó, một diterpen 17(13 → 14)-abeo-ent-3S*,13S*,16-trihydroxystrob-8(15)-ene, đã được xác định là một hợp chất tự nhiên mới. Ba lacton sesquiterpen germacranolid thể hiện khả năng ức chế sản sinh interleukin-8 (IL-8) với giá trị IC50 trong khoảng 1,6- 6,3 µM và ức chế sản sinh TNF-α với giá trị IC50 trong khoảng 0,9 - 3,3 µM. Ngoài ra, các hợp chất này còn ức chế đáng kể sự sản sinh IL-1β và MCP-1, đồng thời làm giảm tác dụng của lipopolysaccharid (LPS) đối với sự biểu hiện bề mặt của các phân tử bám dính CD11a, CD11b và CD62L. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng khoa học hỗ trợ cho việc sử dụng S. orientalis theo truyền thống trong điều trị các bệnh viêm.
Phan Thị Trang – Đặng Đức Huy
CÁC SESQUITERPENOID KIỂU GERMACRANE CÓ HOẠT TÍNH GÂY ĐỘC TẾ BÀO TỪ CÂY HY THIÊM (SIGESBECKIA ORIENTALIS)
Na Liu và cs.
Bioorganic Chemistry, 2019, Volume 92, 103196
Mười một sesquiterpenoid mới có mức độ oxy hóa cao thuộc khung germacran (1–11) cùng với 16 dẫn chất đã biết (12–27) đã được phân lập từ phần trên mặt đất của cây hy thiêm (Sigesbeckia orientalis). Cấu trúc của các hợp chất phân lập, bao gồm cả cấu hình tuyệt đối, đã được xác định bằng các phương pháp phổ, đặc biệt là phổ NMR và ECD. Trong số đó, các hợp chất 13, 21 và 23 mang nhóm thế 8-methacryloxy thể hiện hoạt tính gây độc tế bào in vitro mạnh hơn đối với hai dòng tế bào ung thư người A549 (ung thư phổi) và MDA-MB-231 (ung thư vú) so với các hợp chất đồng chuyển hóa khác, với giá trị IC50 dao động từ 6,02 đến 10,77 μM tương đương với đối chứng dương adriamycin.
Phan Thị Trang
BA DITERPEN MỚI THUỘC NHÓM ENT-KAURAN CÓ TÁC DỤNG KHÁNG KHUẨN ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ CÂY HY THIÊM (SIGESBECKIA ORIENTALIS)
Zhong-Shun Zhou và cs.
Molecules, 2024, 29(19), 4631
Ba diterpen mới thuộc nhóm ent-kauran, được đặt tên là sigesbeckin A–C (1–3), cùng với tám dẫn chất đã biết trước đó (4–11) đã được phân lập từ cây hy thiêm (Sigesbeckia orientalis). Cấu trúc hóa học của các hợp chất này được xác định thông qua nhiều phương pháp phổ khác nhau. Tất cả các hợp chất được đánh giá hoạt tính kháng khuẩn đối với hai chủng vi khuẩn kháng thuốc là Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) và Enterococci kháng vancomycin (VRE). Đặc biệt, các hợp chất 1 và 5 thể hiện tác dụng kháng khuẩn trung bình với giá trị MIC = 64 μg/mL. Ngoài ra, các hợp chất 3, 5 và 11 cho thấy tác dụng hiệp đồng khi kết hợp với doxorubicin hydrochlorid (DOX) và vancomycin (VAN) trong ức chế MRSA và VRE. Những kết quả này cung cấp cơ sở khoa học tiềm năng cho việc phát triển các tác nhân mới thay thế kháng sinh, góp phần giải quyết vấn đề ngày càng nghiêm trọng của tình trạng kháng kháng sinh.
BỐN DITERPEN MẠCH HỞ MỚI TỪ CÂY HY THIÊM (SIGESBECKIA ORIENTALIS)
Do Thi Trang và cs.
Natural product communications, 2021, 11(16)
Bốn diterpen mạch hở mới được đặt tên là siegetalis A-D (1-4), đã được phân lập từ phân trên mặt đất của cây hy thiêm (Siegesbeckia orientalis). Cấu trúc hóa học của các hợp chất này được xác định thông qua phân tích chuyên sâu dữ liệu phổ khối phân giải cao (HR-ESI-MS) và dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR). Tác dụng của các hợp chấtphân lập được đối với hoạt tính của enzym xanthin oxidase (XO) đã được đánh giá thông qua phản ứng oxy hóa sử dụng xanthin làm cơ chất. Ở nồng độ 50 µM, các hợp chất 1-4 thể hiện khả năng ức chế xanthin oxidase lần lượt ở mức 13,59% ± 0,51%, 19,64% ± 1,54%, 17,45% ± 1,26% và 21,36% ± 1,40%.
Phan Thị Trang – Nguyễn Xuân Lan
HAI SESQUITERPEN MỚI CÓ CHỨA CLO ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ CÂY HY THIÊM (SIGESBECKIA ORIENTALIS)
Nguyen Thi Viet Thanh và cs.
Natural Product Research, 2023, 21 (37), 3677-3684
Hai sesquiterpen mới có chứa clo thuộc nhóm guaianan được đặt tên là chlosigesolid A và B, cùng với tám hợp chất đã biết được phân lập từ lá và cành của hy thiêm (Sigesbeckia orientalis). Cấu trúc hóa học của các hợp chất này được xác định thông qua phân tích dữ liệu phổ phân giải cao (HR-ESI-MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều (1D và 2D-NMR), kết hợp so sánh với dữ liệu trong tài liệu tham khảo. Cấu hình tuyệt đối của các hợp chất mới được xác định bằng các phương pháp NOESY và ECD. Chlosigesolid A thể hiện hoạt tính ức chế sản sinh NO trong tế bào đại thực bào RAW264.7 được kích thích bằng LPS với giá trị IC50 là 10,9 ± 0,8 μM. Các hợp chất khác cũng cho thấy hoạt tính ức chế NO ở mức IC50 dao động từ 26,5 đến 49,7 μM.
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC TỪ CÂY HY THIÊM (SIGESBECKIA ORIENTALIS L.)
Bui Thi Thu Trang và cs.
Tạp chí Hoá học Việt Nam, 2023; 61(S3): 21-27
Hai germacranolid sesquiterpen, 9 β -acetoxy-3- epi -nobilium ( 1 ), zoapatanolid B ( 2 ) và bốn dẫn xuất este benzoat, benzyl 2- O - β -D-glucopyranosyl-6-methoxybenzoat ( 3 ), benzyl 2- O - β -D-glucopyranosyl-6-hydroxybenzoat ( 4 ), methyl 2- O - β -D-glucopyranosylbenzoat ( 5 ), ficusid G ( 6 ) được phân lập từ phần trên mặt đất của cây hy thiêm . Cấu trúc của các hợp chất phân lập được xác định bằng cách kết hợp các phương pháp phổ HR-ESI-MS, NMR một chiều và hai chiều và so sánh dữ liệu phổ của chúng với các tài liệu trước đây. Đây là lần đầu tiên các hợp chất này được phân lập và xác định cấu trúc từ cây hy thiêm.
Nguyễn Thị May – Lê Huỳnh Thanh Như
THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÂY HY THIÊM (SIEGESBECKIA ORIENTALIS L.).
Li-Li Wang và cs.
Journal of Integrative Plant Biology, 2006; 48(8): 991−995
Các bộ phận trên mặt đất của cây hy thiêm đã được sử dụng như một loại thuốc y học cổ truyền Trung Quốc để điều trị viêm khớp dạng thấp, tăng huyết áp, sốt rét, suy nhược thần kinh và rắn cắn. Nhằm tìm kiếm các hợp chất mới và có hoạt tính sinh học, thành phần hóa học của phần trên mặt đất của hy thiêm đã được nghiên cứu và hai hợp chất mới,cụ thể là β-D-glucopyranosyl-ent-2-oxo-15,16-dihydroxy-pimar-8(14)-en-19-oic-late (hợp chất 1) và [1(10)E,4Z]-8β-angeloyloxy-9α-methoxy-6α,15-dihydroxy-14-oxogermacra-1(10),4,11(13)-trien-12-oic acid 12,6-lacton (hợp chất 2), cũng như năm hợp chất ent-pimaran diterpen đã biết (hợp chất 3–7) đã được phân lập. Cấu trúc của hai hợp chất mới đã được xác định bằng các tính chất lý hóa và phân tích phổ, đặc biệt là các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều.
Nguyễn Thị May
MỘT SỐ HỢP CHẤT DITERPEN ENT-PIMARAN TỪ HY THIÊM (SIEGESBECKIA ORIENTALIS ) VÀ SỬA ĐỔI CẤU TRÚC CỦA MỘT HỢP CHẤT LIÊN QUAN
Fei Wang và cs.
Journal of Natural Products, 2009; 72(11): 2005–2008
Sáu diterpenoid mới khung ent-pimaran, cụ thể là ent-14β,16-epoxy-8-pimarene-3β,15α-diol (1), 7β-hydroxydarutigenol (2), 9β-hydroxydarutigenol (3), 16-O-acetyldarutigenol (4), 15,16-di-O-acetyldarutosid (5), và 16-O-acetyldarutosid (6), đã được phân lập từ chiết xuất ethanol của cây hy thiêm. Cấu trúc của chúng đã được làm sáng tỏ dựa trên các nghiên cứu dữ liệu phổ, và cấu hình tuyệt đối của 1 đã được thiết lập bằng phương pháp Mosher sửa đổi. Hơn nữa, cấu trúc của ent-12β,16-epoxy-8-pimarene-2α,15β,19-triol, mới được phân lập gần đây cũng từ hy thiêm, nên được sửa đổi thành ent-14β,16-epoxy-8-pimarene-2α,15α,19-triol (10).
CÁC SESQUITERPENOID MỚI TỪ CÂY HY THIÊM (SIEGESBECKIA ORIENTALIS).
Ying Xiang và cs.
Helvetica Chimica Acta, 2005; 88(1): 160-170
Năm sesquiterpenoid mới, cụ thể là 8β-(angeloyloxy)-4β,6α,15-trihydroxy-14-oxoguaia-9,11(13)-dien-12-oic acid 12,6-lacton (1), 4β,6α,15-trihydroxy-8β-(isobutyryloxy)-14-oxoguaia-9,11(13)-dien-12-oic acid 12,6-lacton (2), 11,12,13-trinorguai-6-ene-4β,10β-diol (3), (1(10)E,4E,8Z)-8-(angeloyloxy)-6α,15-dihydroxy-14-oxogermacra-(1(10),4,8,11(13)-tetraen-12-oic acid 12,6-lacton (9), và (1(10)E,4β)-8β-(angeloyloxy)-6α,14,15-trihydroxygermacra-1(10),11(13)-dien-12-oic acid 12,6-lacton (11), và ba dẫn xuất mới, (1(10)E,4Z)-8β-(angeloyloxy)-9α-ethoxy-6α,15-dihydroxy-14-oxogermacra-1(10),4,11(13)-trien-12-oic acid 12,6-lacton (6), (1(10)E,4Z)-8β-(angeloyloxy)-9α,13-diethoxy-6α,15-dihydroxy-14-oxogermacra-1(10),4-dien-12-oic acid 12,6-lacton (7), và (1(10)E,4Z)-8β-(angeloyloxy)-9α-ethoxy-6α,15-dihydroxy-13-methoxy-14-oxogermacra-1(10),4-dien-12-oic acid 12,6-lacton (8), cùng với ba sesquiterpenoid đã biết là 4, 5 và 10, được phân lập từ các bộ phận trên mặt đất của hy thiêm. Cấu trúc của chúng được thiết lập bằng các phương pháp phổ, đặc biệt là phương pháp phổ cộng hưởng từ nhân NMR 1 chiều và 2 chiều.
CÁC DITERPENOID VÀ GLYCOSID DITERPENOID MỚI TỪ CÂY HY THIÊM (SIEGESBECKIA ORIENTALIS)
Journal of Natural Products, 2004; 67(9): 1517–1521
Tám diterpenoid và glycosid diterpenoid ent-pimaran mới, cụ thể là ent-12α,16-epoxy-2β,15α,19-trihydroxypimar-8-en (1), ent-12α,16-epoxy-2β,15α,19-trihydroxypimar-8(14)-en (2), ent-2α,15,16,19-tetrahydroxypimar-8(14)-en (3), ent-15-oxo-2β,16,19-trihydroxypimar-8(14)-en (4), ent-2-oxo-15,16-dihydroxypimar-8(14)-en-16-O-β-glucopyranosid (5), ent-2-oxo-15,16,19-trihydroxypimar-8(14)-en (6), ent-2-oxo-3β,15,16-trihydroxypimar-8(14)-en-3-O-β-gluco-pyranosid (7), và ent-2β,15,16,19-tetrahydroxypimar 8(14)-en-19-O-β-glucopyranosid (9), cùng với bảy diterpen đã biết (8, 10−15) đã được phân lập từ cây hy thiêm. Hai hợp chất 1 và 2 là diterpenoid mới khung ent-pimaran, với sự hiện diện của nhóm 12α,16-epoxy lần đầu tiên được phát hiện. Cấu trúc của chúng đã được xác định bằng các phương pháp phổ, đặc biệt là phương pháp phổ NMR 1D và 2D.
Nguyễn Thị May.
Chiết xuất ethanol từ Siegesbeckia orientalis (Hy thiêm) cản trở tương tác RAGE-CD11b (do HMGB1 thúc đẩy) để làm giảm tổn thương thần kinh sau đột quỵ liên quan đến bạch cầu trung tính.
Jinfen Chen và cộng sự.
Phytomedicine, 139, 156541.
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ là một bệnh lý mạch máu não nguy hiểm đến tính mạng với các lựa chọn điều trị hạn chế. Trong quá trình tiến triển của đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính (AIS), phản ứng viêm liên quan đến bạch cầu trung tính qua trung gian của protein high mobility group box 1 (HMGB1) góp phần đáng kể vào việc làm trầm trọng thêm tổn thương tế bào thần kinh. Loài Siegesbeckia orientalis L. (SO), một trong những nguồn chính của dược liệu Hy thiêm (Sigesbeckiae Herba), cho thấy triển vọng trong việc chống viêm thần kinh và điều chỉnh chức năng của bạch cầu trung tính. Do đó, SO được đề xuất có thể chống lại tổn thương viêm thần kinh sau AIS. Nghiên cứu hiện tại nỗ lực khám phá các tác dụng cải thiện của chiết xuất ethanol của SO (EESO) đối với tổn thương viêm thần kinh sau AIS, và phân tích các cơ chế liên quan tập trung vào việc huy động bạch cầu trung tính do HMGB1 và sự hình thành bẫy ngoại bào của bạch cầu trung tính (NETs). Mô hình đột quỵ do huyết khối quang hóa (photothrombotic) trên chuột đã được thiết lập để đánh giá tác dụng cải thiện của việc sử dụng EESO chống lại AIS. Kiểm tra mô bệnh học và nhuộm huỳnh quang miễn dịch được tiến hành để quan sát tổn thương thần kinh não, sự thâm nhập của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs. Ngoài ra, các chỉ số viêm và nồng độ HMGB1 trong huyết thanh cũng được phát hiện lần lượt thông qua qPCR và ELISA. Trên in vitro, các ảnh hưởng của việc sử dụng huyết thanh chứa EESO đối với sự di chuyển của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs cũng được đánh giá. Biến nạp mô phỏng biểu hiện quá mức HMGB1 (HMGB1-overexpressed mimic transfection), xét nghiệm dịch chuyển nhiệt tế bào (cellular thermal shift assay) và đồng kết tủa miễn dịch (coimmunoprecipitation) đã được sử dụng để điều tra xem liệu các hợp chất từ huyết thanh chứa EESO có nhắm mục tiêu vào HMGB1 để ngăn chặn tương tác giữa thụ thể của các sản phẩm glycat hóa bền vững (RAGE) và CD11b hay không. Hơn nữa, các hợp chất hoạt tính tiềm năng của EESO nhắm mục tiêu vào HMGB1 đã được sàng lọc và xác minh. Việc sử dụng EESO đã làm giảm bớt tình trạng AIS trên chuột trong mô hình đột quỵ do huyết khối quang hóa, được thể hiện qua việc giảm đáng kể thể tích nhồi máu não cũng như cải thiện lưu lượng máu não và các chức năng thần kinh. Hơn nữa, việc sử dụng EESO đã làm giảm rõ rệt tổn thương thần kinh thứ phát, hạn chế sự thâm nhập của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs, cũng như làm giảm nồng độ của các chất trung gian gây viêm và HMGB1 trong huyết thanh. Trên in vitro, các hợp chất trong huyết thanh chứa EESO đã tương tác trực tiếp với HMGB1 có nguồn gốc từ tế bào thần kinh. Sự di chuyển của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs do HMGB1 gây ra thông qua tương tác RAGE-CD11b cũng bị đảo ngược bởi việc sử dụng huyết thanh chứa EESO. Ngoài ra, isoimperatorin, 4,7-dimethyltetral-1-one, perillartine và darutigenol, với tư cách là các thành phần hoạt tính, đã góp phần vào tác dụng ức chế của EESO lên sự di chuyển của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs do HMGB1.
Võ Văn Nghĩa
CHIẾT XUẤT SIEGESBECKIA ORIENTALIS L. (HY THIÊM) ĐẢO NGƯỢC TRẠNG THÁI KÍCH HOẠT VIÊM CỦA TẾ BÀO ĐỆM (MICROGLIA) ĐỂ BẢO VỆ THẦN KINH SAU ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CỤC BỘ Ở CHUỘT.
Liu Bowen và cộng sự.
Current Neuropharmacology, 23(13), 1753-1769.
Siegesbeckia orientalis L. (SO - Hy thiêm) là một vị thuốc y học cổ truyền Trung Quốc thường được sử dụng cho các bệnh lý viêm. Trong y học cổ truyền, SO được áp dụng để trị đột quỵ, nhưng cơ chế vẫn chưa rõ ràng. Mục đích của nghiên cứu này là để điều tra xem liệu SO có phát huy tác dụng bảo vệ thần kinh bằng cách giảm tổn thương viêm liên quan đến tế bào đệm (microglia) sau thiếu máu não cục bộ khu trú/tái tưới máu (I/R) hay không. SO được chiết bằng ethanol 50% và việc kiểm soát chất lượng được thực hiện bằng hệ thống Waters ACQUITY-UPLC CLASS. Mô hình I/R não cục bộ khu trú được thiết lập trên chuột và tiến hành đánh giácác chức năng thần kinh, sự sụt cân và thể tích nhồi máu. Trạng thái của tế bào đệm ở vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) được theo dõi bằng phương pháp nhuộm huỳnh quang miễn dịch và hình thái học. Tế bào đệm sơ cấp của chuột được kích thích bằng lipopolysaccharide (LPS) để kích hoạt phản ứng viêm, đồng thời mô hình đồng nuôi cấy tế bào đệm-tế bào thần kinh (microglia-neuron) được thiết lập in vitro. Sự chết theo chương trình (apoptosis) và chết tế bào kiểu viêm (pyroptosis) của tế bào thần kinh được chứng minh bằng xét nghiệm TUNEL, Western Blot và ELISA. Các cytokine gây viêm được phát hiện bằng qPCR và ELISA. Điều trị bằng SO làm giảm thể tích nhồi máu, cải thiện các chức năng thần kinh, giảm bớt sự chết theo chương trình và chết tế bào kiểu viêm của thần kinh, được thể hiện qua việc tăng tỷ lệ Bcl-2/Bax, giảm Cleaved Caspase-3 và ức chế biểu hiện NLRP3/Caspase-1/GSDMD sau I/R. Hơn nữa, () trạng thái của tế bào đệm từ tiền viêm (pro-inflammation) sự chuyển đổi sang kháng viêm (anti-inflammation) được đặc trưng bởi sự thay đổi hình thái và sự gia tăng tỷ lệ các tế bào dương tính với CD206/Iba1 sau khi điều trị bằng SO. Ngoài ra, SO làm giảm biểu hiện TLR4 và p65 khu trú ở nhân, ức chế IL-1β, IL-6, IL-18, và TNF-α, nhưng làm tăng tiết IL-10 trên cả mô hình in vivo và in vitro. SO đảo ngược trạng thái tiền viêm của tế bào đệm, được chứng minh bằng việc ức chế chuỗi tín hiệu TLR4/NF-κB, điều hòa giảm các cytokine tiền viêm và điều hòa tăng các cytokine kháng viêm, điều này góp phần vào tác dụng bảo vệ thần kinh, chống lại sự chết tế bào kiểu viêm và chết theo chương trình của tế bào thần kinh sau đột quỵ thiếu máu cục bộ.
TÁC DỤNG KÍCH THÍCH MIỄN DỊCH CỦA CAO CHIẾT N-HEXAN HY THIÊM (SIEGESBECKIA ORIENTALIS L.) TRÊN THỰC NGHIỆM
Bùi Thị Vân Anh và cộng sự[l1] .
Tạp chí Nghiên cứu Y học, 191(6), 344-352.
Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.) là một loại thảo dược từ lâu đã được chứng minh là có tác dụng chống viêm, giảm đau và chống oxy hóa. Nghiên cứu này khảo sát tác dụng tăng cường miễn dịch của cao chiết n-hexan Hy thiêm trên mô hình thực nghiệm gây suy giảm miễn dịch bằng cylcophosphamid (CY). Chuột nhắt trắng chủng Swiss được phân ngẫu nhiên vào một trong năm lô: lô chứng sinh học và bốn lô phơi nhiễm với CY (một lô mô hình, một lô thuốc tham chiếu (levamisol) và hai lô uống cao chiết n-hexan ở các mức liều 100 hoặc 300 mg/kg; n = 9 cho mỗi nhóm). Trong thời gian điều trị 7 ngày bằng một trong các thuốc thử nghiệm, chuột được tiêm một liều CY duy nhất vào ngày thứ 4 để gây ức chế tủy và ức chế miễn dịch. Ở động vật bị ức chế miễn dịch, điều trị bằng cao chiết n-hexan làm giảm đáng kể tình trạng giảm trọng lượng lách và tuyến ức; làm tăng số lượng bạch cầu và nồng độ TNF-α trong huyết thanh; đồng thời cũng cải thiện tình trạng teo mô lympho trong xét nghiệm mô bệnh học. Kết quả nghiên cứu này bước đầu cung cấp bằng chứng về tác dụng kích thích miễn dịch của cao chiết n-hexan Hy thiêm, có khả năng tăng cường phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.
TÁC DỤNG ỨC CHẾ CỦA CHIẾT XUẤT ETHANOL SIEGESBECKIA ORIENTALIS ĐỐI VỚI SỰ TĂNG SINH VÀ DI CƯ CỦA TẾ BÀO UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN THÔNG QUA VIỆC THÚC ĐẨY STRESS OXY HÓA, APOPTOSIS VÀ PHẢN ỨNG VIÊM
Tzu-Hua Chen và cộng sự.
Pharmaceuticals 2022, 15(7), 826.
Các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận rằng Hy thiêm Siegesbeckia orientalis (SO) có khả năng ức chế sự tăng sinh và di chuyển của tế bào ung thư nội mạc tử cung và ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu hiện tại nhằm đánh giá tác dụng của dịch chiết ethanol từ SO (SOE) đối với sự tăng sinh và di chuyển của tế bào ung thư biểu mô tế bào gan (HCC), đồng thời khảo sát ảnh hưởng của SOE trên tế bào không ung thư sử dụng dòng tế bào sừng HaCaT làm mô hình đối chứng. Kết quả cho thấy SOE ức chế mạnh sự tăng sinh của tế bào ung thư gan Hepa1-6 (IC₅₀ = 282,4 μg/mL) và HepG2 (IC₅₀ = 344,3 μg/mL), trong khi độc tính tế bào đối với tế bào HaCaT thấp hơn đáng kể (IC₅₀ = 892,4 μg/mL). Điều trị SOE làm tăng sản sinh ROS trong tế bào HCC và đồng thời làm giảm biểu hiện của các enzyme chống oxy hóa gồm superoxide dismutase, glutathione peroxidase và catalase. Ngược lại, ở các tế bào HaCaT được kích thích bằng H₂O₂, SOE lại làm giảm mức ROS nội bào và tăng cường biểu hiện các enzyme chống oxy hóa liên quan. SOE cũng làm giảm biểu hiện của Bcl-2 – một protein chống apoptosis và các protein liên quan đến di cư tế bào như metalloproteinase chất nền (MMP) và β-catenin trong tế bào HCC, cho thấy SOE có thể thúc đẩy quá trình apoptosis và ức chế khả năng di chuyển của tế bào ung thư gan. Trái lại, SOE làm giảm apoptosis và tăng khả năng di chuyển của tế bào sừng HaCaT. Ngoài ra, xử lý SOE dẫn đến tăng đáng kể mức cytokine tiền viêm, bao gồm TNF-α, IL-6 và IL-1β, ở các tế bào Hepa1-6 và HepG2. Ngược lại, SOE làm giảm đáng kể biểu hiện các cytokine này trong các tế bào HaCaT chịu tác động của H₂O₂. Nhìn chung, các kết quả này cho thấy SOE có thể làm chậm tiến triển của HCC thông qua việc tăng stress oxy hóa, thúc đẩy phản ứng viêm, gây apoptosis và ức chế sự di chuyển của tế bào ung thư. Đồng thời, SOE thể hiện vai trò bảo vệ đối với tế bào không ung thư trong điều kiện stress oxy hóa do H₂O₂ gây ra. Do đó, SOE được xem là một ứng viên tiềm năng cho điều trị ung thư gan.
Đỗ Trần Thẩm Thuý
HIỆU quả điều trị của loài Hy thiêm SIEGESBECKIA ORIENTALIS L. và hoạt chất luteolin trong điều trị viêmKHỚP DẠNG THẤP: dược lý học mạng lưới, GẮN KẾT phân tử và KIỂM CHỨNG thực nghiệm
Bixia Xiao và cộng sự.
Journal of Ethnopharmacology,Volume 317, 5 December 2023, 116852
Ý nghĩa dược lý dân tộc học
Viêm khớp dạng thấp (RA) là một bệnh phổ biến, khó điều trị và có tỷ lệ tàn tật cao. Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.) (SO) là một vị thuốc trong y học cổ truyền Trung Quốc, thường được sử dụng trong điều trị RA trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, tác dụng chống RA và cơ chế tác động của SO, cũng như hợp chất hoạt tính của nó, vẫn chưa được làm sáng tỏ rõ ràng.
Mục tiêu của nghiên cứu
Nhóm tác giả mong muốn khám phá cơ chế phân tử của SO chống lại RA bằng phân tích dược lý mạng, kết hợp với thí nghiệm in vitro và in vivo, đồng thời xác định những hợp chất có hoạt tính sinh học tiềm năng trong SO.
Dược lý mạng là một công nghệ tiên tiến cho phép nghiên cứu hiệu quả tác dụng điều trị của thảo dược cùng xác định cơ chế tác động . Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng phương pháp này để khảo sát tác dụng chống RA của SO và sau đó xác minh kết quả dự đoán bằng các phương pháp sinh học phân tử.
Nhóm tác giả xây dựng mạng lưới thuốc–thành phần–mục tiêu–bệnh và mạng tương tác protein–protein (PPI) liên quan đến các mục tiêu của SO trong RA, tiếp theo là phân tích tập hợp Gene Ontology (GO) và đường truyền KEGG.
Ngoài ra, còn sử dụng mô hình đại thực bào RAW264.7 kích thích bởi LPS, mô hình tế bào nội mô tĩnh mạch rốn người (HUVEC) cảm ứng bởi VEGFA, và mô hình chuột viêm khớp cảm ứng bằng bổ thể t (AIA) để xác minh tác dụng chống RA của SO.
Thành phần hóa học của SO cũng được xác định bằng UHPLC-TOF-MS/MS.
Phân tích hệ thống dược lý mạng cho thấy các con đường tín hiệu liên quan đến viêm và tạo mạch là những con đường tiềm năng tham gia vào tác dụng chống RA của SO.
Trong cả mô hình in vitro và in vivo, nhóm tác giả phát hiện rằng tác dụng chống RA của SO ít nhất một phần là do ức chế tín hiệu thụ thể Toll-like 4 (TLR4).
Phân tích docking phân tử cho thấy luteolin — một hợp chất có hoạt tính trong SO — có số lượng liên kết mục tiêu cao nhất trong mạng lưới hợp chất–mục tiêu và có khả năng liên kết trực tiếp với phức hợp TLR4/MD-2, điều này cũng được xác nhận trên mô hình tế bào.
Ngoài ra, hơn 40 hợp chất bao gồm luteolin, darutoside và kaempferol tương ứng với các peak độc lập đã được xác định tạm thời thông qua đối chiếu công thức phân tử và phổ khối.
Nhóm tác giả nhận thấy rằng SO và hợp chất hoạt tính luteolin có tác dụng chống viêm khớp dạng thấp và có khả năng ức chế mạnh đường truyền tín hiệu TLR4 cả in vitro và in vivo.
Những phát hiện này không chỉ cho thấy ưu điểm của hệ thống dược lý mạng trong việc khám phá thuốc từ thảo dược để điều trị bệnh mà còn gợi ý rằng SO và các hợp chất hoạt tính của nó có thể được phát triển như những thuốc điều trị RA tiềm năng.Hoàng Viết Thành
KÍCH HOẠT VÀ KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG CỦA VÙNG RỄ (RHIZOSPHERE) SIEGESBECKIA ORIENTALIS L. TRƯỚC ÁP LỰC CADMIUM (CD)
Jianyu Xie và cộng sự.
Front. Plant Sci., 24 March 2023 Sec. Plant Abiotic Stress, Volume 14 - 2023
Thí nghiệm này đã điều tra sự thay đổi của vi môi trường đất vùng rễ trong hệ thống đất siêu tích tụ dưới áp lực Cd nhằm làm rõ cơ chế của siêu tích tụ và khả năng chịu đựng của cây. Do đó, các phân đoạn Cd, thành phần hóa học và đặc điểm sinh hóa trong đất vùng rễ của Siegesbeckia orientalis L. dưới điều kiện stress Cd từ 0, 5, 10, 25, 50, 100 và 150 mg kg-1 đã được điều tra thông qua một thí nghiệm túi rễ. Kết quả cho thấy, Cd đã gây ra sự acid hóa của đất vùng rễ S. orientalis và thúc đẩy sự tích lũy carbon hữu cơ hòa tan (DOC) và carbon hữu cơ dễ oxy hóa (ROC), tăng lần lượt 28,39% và 6,98% so với đối chứng. Tỷ lệ Cd không bền/dễ bay hơi (tan trong acid và có thể khử Cd) trong dung dịch đất đã tăng đáng kể (P < 0,05) từ 31,87% lên 64,60% và từ 26,00% lên 34,49%, tương ứng. Ngoài ra, vi môi trường đất vùng rễ có thể giảm thiểu sự ức chế của Cd đối với vi sinh vật và enzyme đất so với đất ở trạng thái tự nhiên. Dưới nồng độ Cd trung bình và thấp, carbon sinh khối vi sinh vật đất vùng rễ (MBC), hô hấp cơ bản, quá trình amoni hóa và quá trình nitrat hóa đã tăng đáng kể (P < 0,05), và hoạt động của các enzyme chính không bị ức chế đáng kể. Điều này cho thấy rằng sự giảm pH và sự tích lũy carbon hữu cơ (DOC và ROC) làm tăng khả năng sinh học của Cd và có thể đã góp phần vào sự tích lũy Cd trong S. orientalis. Hơn nữa, vi sinh vật và enzyme trong đất rễ có thể nâng cao khả năng chịu đựng của S. orientalis đối với Cd, giảm thiểu sự mất cân bằng dinh dưỡng và độc tính do ô nhiễm Cd gây ra. Nghiên cứu này đã làm rõ những thay đổi về tính chất lý hóa và sinh hóa của đất rễ dưới áp lực Cd. Sự acid hóa đất rễ và sự tích lũy carbon hữu cơ là những yếu tố chính thúc đẩy sự hoạt hóa của Cd, và vi sinh vật cùng enzyme là những phản ứng đối với khả năng chịu đựng Cd của S. orientalis.
Hoàng Viết Thành
CHIẾT XUẤT ÁP SUẤT THUỸ TĨNH CAO CỦA SIEGESBECKIA ORIENTALIS ỨC CHẾ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MỠ (ADIPOGENESIS) THÔNG QUA KÍCH HOẠT ĐƯỜNG TRUYỀN TÍN HIỆU WNT/Β‑CATENIN
Mi-Bo Kim và cộng sự.
Food Sci Biotechnol, 2020 Mar 7;29(7):977-985.
Loài hy thiêm (St. Paul's Wort, Siegesbeckia orientalis L.) có đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, chống dị ứng, chống vô sinh và ức chế miễn dịch. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả làm sáng tỏ liệu chiết xuất áp suất thủy tĩnh cao của cây Hy thiêm (SPW-HHPE) có hoạt tính chống tạo mỡ hay không. SPW-HHPE ức chế quá trình tạo mỡ bằng cách giảm tích tụ lipid nội bào. SPW-HHPE làm giảm biểu hiện mRNA và protein của các yếu tố điều hòa hình thành mỡ [như peroxisome proliferator-activated receptor gamma (PPARγ), CCAAT/enhancer binding protein alpha (C/EBPα) và sterol regulatory element binding protein-1c]. Ngoài ra, SPW-HHPE còn làm giảm mức độ biểu hiện mRNA của các enzyme tạo mỡ (fatty acid synthase và acetyl-CoA carboxylase) cũng như adipocytokine (adiponectin và leptin). Tác dụng ức chế của SPW-HHPE đối với quá trình tạo mỡ chủ yếu là do sự tăng cường con đường truyền tín hiệu Wnt/β-catenin. Khi siRNA β-catenin được chuyển vào tế bào mỡ 3T3-L1, biểu hiện mRNA của PPARγ và C/EBPα được tăng cường; tuy nhiên, biểu hiện của chúng bị giảm đi bởi SPW-HHPE. Những kết quả này cho thấy SPW-HHPE ức chế quá trình tạo mỡ bằng cách kích thích con đường Wnt/β-catenin.
TỔNG QUAN CHI TIẾT VỀ CÂY HYTHIÊM SIEGESBECKIA ORIENTALIS
Sukanya M, Ashoka Babu VL và cs.
Zeichen Journal Volume 8, Issue 02, 2022ISSN No: 0932-4747
Cây thuốc có vai trò quan trọng đối với sức khỏe của cả con người và động vật. Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.) thường được gọi là St. Paul's Wort là một loại thảo mộc tự nhiên được trồng hàng năm. Đây là một thành viên thuộc họ Cúc (Asteraceae), đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ để điều trị nhiều loại bệnh. Hy thiêm có thể được tìm thấy ở Châu Phi và Châu Á, cũng như các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới. Hy thiêm có thể điều trị cục bộ các bệnh phong, giang mai, vết loét và loét hoại tử. Loại thảo mộc này có nhiều thành phần thực vật có lợi và hoạt tính sinh học được cho là chịu trách nhiệm cho các đặc tính tăng cường sức khỏe. Sesquiterpene lactone, orientin và diterpene là các chất hóa học có hoạt tính sinh học được phát hiện trong các phần trên mặt đất của Hy thiêm. Sự hiện diện của hợp chất 3, 7-dimethyl quercetin trong toàn bộ cây đã được ghi nhận. Các đặc tính giảm đau, chống viêm, chống sốt rét, chống thấp khớp, hạ huyết áp, kháng nọc rắn, ức chế miễn dịch và chống tăng sinh tế bào ung thư đều được ghi nhận từ Hy thiêm. oàn cây hy thiêm được sử dụng như một tác nhân hạ đường huyết trong y học dân gian. Bài tổng quan nêu bật các công dụng y học, thành phần hóa học và các nghiên cứu dược lý được thực hiện về loài cây này.
Phạm Văn Năm , Đặng Quốc Tuấn
DƯỢC LIỆU HY THIÊM: TỔNG QUAN CÔNG DỤNG CỔ TRUYỀN, THÀNH PHẦN HÓA HỌC, TÁC DỤNG DƯỢC LÝ VÀ NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
Qi Wang và cs.
Journal of Ethnopharmacology Volume 275, 15 July 2021, 114117
Dược lý dân tộc: Herba Siegesbeckiae, chủ yếu bao gồm Sigesbeckia orientalis L, Sigesbeckiae pubescens Makino và Sigesbeckiae glabrescens Makino. Herba Siegesbeckiae, còn được gọi là 'Xi-Xian Cao' (tiếng Trung: 豨莶草)- hy thiêm thảo, đã được coi là một loại thuốc truyền thống quan trọng của Trung Quốc kể từ thời nhà Đường. Các bộ phận trên mặt đất của dược liệu cũng đang được sử dụng như một loại thuốc thảo dược ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Ở Trung Quốc, dược liệu hy thiêm đã được sử dụng để điều trị chứng đau khớp dạng thấp với tình trạng đau nhức và yếu ở thắt lưng và đầu gối, cũng như tê liệt các chi.
Mục đích: Mục đích của bài đánh giá này là cung cấp phân tích quan trọng về bằng chứng khoa học để hỗ trợ cho các công dụng truyền thống của dược liệu hy thiêm. Thông tin có sẵn về đặc điểm thực vật, công dụng truyền thống, thành phần hóa học, tác động dược lý, nghiên cứu lâm sàng, độc tính và kiểm soát chất lượng đã được để hiểu được các nghiên cứu hiện tại và cung cấp thông tin cho nghiên cứu trong tương lai.
Vật liệu và phương pháp: Các thuật ngữ tìm kiếm “Herba Siegesbeckiae”, “Sigesbeckia orientalis”, “Sigesbeckia pubscens” và “ Sigesbeckia glabrescens ” đã được sử dụng để lấy thông tin từ các cơ sở dữ liệu điện tử như Web of Science, China National Knowledge Infrastructure, PubMed, Google Scholar và SciFinder Scholar và các công cụ tìm kiếm web khác (Springer, Yahoo search). Thông tin được cung cấp trong bài đánh giá này dựa trên các bài báo được phản biện bằng tiếng Anh và tiếng Trung. Bên cạnh đó, thông tin cũng được thu thập từ các tài liệu cổ.
Kết quả: Các nghiên cứu cho thấy Herba Siegesbeckiae chứa sesquiterpenoid , diterpenoid, flavonoid và acid hữu cơ , v.v. Nhờ các thành phần này, dược liệu hy thiêm thể hiện nhiều tác dụng dược lý, chẳng hạn như tác dụng chống viêm, chống khối u, chống dị ứng, chống oxy hóa, chống huyết khối và kháng khuẩn. Ngoài ra, hy thiêm còn cho thấy tác dụng bảo vệ tổn thương do thiếu máu cục bộ cơ tim và não.
Kết luận: Theo công dụng truyền thống, thành phần hóa học, tác dụng dược lý và nghiên cứu lâm sàng, dược liệu hy thiêm được coi là một cây thuốc đầy hứa hẹn với nhiều hợp chất hóa học và nhiều tác dụng dược lý. Tuy nhiên, ít nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào độc tính và nghiên cứu định lượng về 3 loài. Điều này cho thấy rằng nghiên cứu sâu hơn về độc tính và kiểm soát chất lượng là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của hy thiêm trong tương lai.
CHIẾT XUẤT HY THIÊM (SIGESBECKIA ORIENTALIS L.) LÀM GIẢM VIÊM KHỚP DO COLLAGEN LOẠI II GÂY RA THÔNG QUA VIỆC ỨC CHẾ TĂNG SINH MÀNG HOẠT DỊCH VÀ VIÊM DO NHIỀU YẾU TỐ
Ke-Gang Linghu và cs.
Pharmacol., 28 August 2020 Sec. Ethnopharmacology
Volume 11 – 2020
Sự tăng sinh và viêm quá mức của nguyên bào sợi hoạt dịch làm tăng tốc và làm trầm trọng quá trình bệnh lý của viêm khớp dạng thấp (RA). Sigesbeckia orientalis L. (SO) là một trong những nguồn thực vật chính của Sigesbeckiae Herba (SH) đã được sử dụng theo truyền thống để điều trị nhiều dạng viêm khớp và đau thấp khớp. Tuy nhiên, cơ chế chống viêm khớp của SO vẫn chưa được hiểu rõ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã nghiên cứu các tác dụng điều trị và cơ chế tác động của SO đối với RA do collagen loại II (C II) gây ra ở chuột cũng như các tế bào SW982 và MH7A hoạt dịch của người do interleukin (IL)-1β gây ra. Đối với các nghiên cứu in vivo, ba mươi sáu con chuột đực Wistar được phân ngẫu nhiên thành sáu nhóm dựa trên trọng lượng cơ thể, sau đó mô hình RA được gây ra bởi C II trong 15 ngày, tiếp theo chiết xuất ethanol 50% của SO (SOE, 0,16, 0,78 và 1,56 g/kg) được điều trị trong 35 ngày. Kết quả cho thấy SOE ức chế đáng kể sự hình thành pannus (tăng sản hoạt dịch ở khoang khớp) và làm giảm tình trạng tổn thương sụn và xói mòn xương ở các khớp bàn chân sau của chuột do CIA gây ra. Hơn nữa, SOE làm giảm sản xuất protein phản ứng C (CRP) trong huyết thanh và biểu hiện IL-6 và IL-1β trong cơ khớp, cũng như phục hồi các tế bào lympho T điều hòa đã giảm. Kết quả thu được từ các nghiên cứu in vitro cho thấy SOE (50, 100 và 200 µg/ml) không chỉ ức chế sự tăng sinh, di cư và xâm lấn của các tế bào SW982 hoạt dịch ở người mà còn làm giảm biểu hiện IL-6 và IL-8 do IL-1β gây ra ở cả tế bào SW982 và MH7A. Bên cạnh đó, SOE làm giảm biểu hiện COX-2, NLRP3 và MMP9, đồng thời làm tăng biểu hiện MMP2 trong các tế bào SW982 do IL-1β gây ra. Hơn nữa, SOE đã ngăn chặn sự hoạt hóa của NF-κB và làm giảm sự phosphoryl hóa của MAPK và biểu hiện của AP-1. Tóm lại, SOE làm giảm thấp khớp do C II gây ra thông qua việc ức chế tăng sản hoạt dịch và viêm do MAPK/NF-κB/AP-1 làm trung gian.
TỔNG QUAN VỀ CÂY THUỐC THUỘC CHI SIEGESBECKIA: NGHIÊN CỨU HÓA HỌC VÀ DƯỢC LÝ
Dexia Wang, Xin Dong, Yanyan Nie, Wenting Yang, Chengshou Li
ACG PUBLICAITONS, Tháng 12 năm 2022 EISSN:1307-6167
Doi: http://doi.org/10.25135/rnp.317.2201.2332
Chi Siegesbeckia đã được sử dụng làm thuốc thảo dược để điều trị viêm khớp, đột quỵ, phát ban và các bệnh khác trong hàng trăm năm ở Đông Á. Các nghiên cứu dược lý hiện đại đã chứng minh các loài thuộc chi Siegesbeckia chứa nhiều hợp chất tự nhiên có hoạt tính. Cho đến nay, 250 hợp chất đã được phân lập từ các loài Siegesbeckia, cụ thể là 128 diterpenoid, 71 sesquiterpenoid, 14 flavonoid và 37 hợp chất khác. Một số nghiên cứu cho thấy các chiết xuất hoặc thành phần của chi Siegesbeckia thể hiện nhiều hoạt tính điều trị khác nhau, bao gồm chống viêm, giảm đau, chống ung thư, v.v. Một số trong các chiết xuất hoặc hợp chất phân lập có triển vọng trong việc khám phá các loại thuốc có nguồn gốc tự nhiên. Thông tin được cung cấp bởi bài tổng quan này sẽ hữu ích cho các nghiên cứu dược lý và hóa thực vật tiếp theo của chi Siegesbeckia.
Từ khóa: Siegesbeckia; kirenol; diterpenoid; anti-inflammation; sesquitepenoid.
Đào Văn Châu
PHÂN TÍCH CHẤT CHUYỂN HÓA (METABOLOMICS) GHI NHẬN CƠ CHẾ GÂY ĐỘC PHỔI CỦA SIEGESBECKIA ORIENTALIS L. VÀ HIỆU QUẢ GIẢM ĐỘC TÍNH CỦA VIỆC CHẾ BIẾN
Ting Jiang, Lingshen Liu, Mi Zang And Cs.
Front. Pharmacol., 09 august 2021
Sec. Ethnopharmacology
https://doi.org/10.3389/Fphar.2021.630319
Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.) là một loại dược liệu Trung Quốc được sử dụng phổ biến. Hy thiêm từ lâu đã được sử dụng như một phương thuốc trong y học cổ truyền Trung Quốc (TCM) cho các triệu chứng liên quan đến các rối loạn viêm xương khớp. Tuy nhiên, hy thiêm hơi độc. Theo lý thuyết TCM, chế biến có thể làm giảm độc tính của các loại thảo mộc. Ở đây, chúng tôi đã thực hiện phép phân tích chất chuyển hóa để xác định xem việc chế biến bằng rượu gạo có làm giảm độc tính của hy thiêm thô hay không, và để khám phá các cơ chế tiềm ẩn gây ra độc tính do hy thiêm thô cũng như hiệu quả giảm độc tính của việc chế biến. Kết quả của chúng tôi ghi nhận hy thiêm thô có độc tính trường diễn ở chuột cống. Hy thiêm làm tăng đáng kể mức LDH huyết thanh và gây ra các tổn thương mô bệnh học trong mô phổi. Điều đáng chú ý là mức LDH trong nhóm hy thiêm chế biến (PSO) thấp hơn so với nhóm hy thiêm thô, và các tổn thương trong mô phổi tương đối nhẹ hơn ở chuột được diều trị bằng hy thiêm chế biến (PSO), từ kết quả này cho thấy rằng việc chế biến làm giảm độc tính phổi của dược liệu thô. Hơn nữa, tổng cộng 32 chất chuyển hóa thay đổi đáng kể đã được xác định. Dựa trên phân tích con đường chuyển hóa, chúng tôi thấy rằng hai đường chuyển hóa đặc trưng bao gồm chuyển hóa alanine, aspartate và glutamate và chuyển hóa glycerophospholipid chỉ bị thay đổi trong nhóm dược liệu thô, trong khi chuyển hóa histidine chỉ bị thay đổi trong nhóm dược liệu chế biến, điều này gợi ý rằng sự cảm ứng stress oxy hóa góp phần vào độc tính phổi do dược liệu thô gây ra, và tác dụng khử gốc tự do có thể làm giảm độc tính của việc chế biến. Dữ liệu của chúng tôi làm rõ thêm về cách hy thiêm thô gây ra độc tính phổi và cách độc tính đó có thể được giảm bằng việc chế biến. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp các biện minh khoa học cho lý thuyết chế biến truyền thống của hy thiêm, mà còn giúp tối ưu hóa quy trình chế biến và tối ưu sự kết hợp của hy thiêm trong lâm sàng.
PHÂN ĐOẠN CÓ HOẠT TÍNH TỪ HY THIÊM CẢI THIỆN CÁC RỐI LOẠN NHẬN THỨC THẦN KINH TRONG PHẪU THUẬT THÔNG QUA VIỆC LÀM GIẢM VIÊM THẦN KINH VÙNG ĐỒI HẢI MÃ
John Man Tak Chuand et al
Frontiers in Pharmacology
Published: 17 March 2022
doi: 10.3389/fphar.2022.846631
Viêm thần kinh có liên quan chặt chẽ đến cơ chế bệnh sinh của các rối loạn nhận thức thần kinh quanh phẫu thuật (PND), đặc trưng bởi sự hoạt hóa của tế bào vi giao, các con đường gây viêm và giải phóng các chất trung gian gây viêm. Hy thiêm (Sigesbeckia orientalis L.) (SO) là một loại thuốc y học cổ truyền Trung Quốc thể hiện hoạt tính kháng viêm trên nhiều mô hình khác nhau. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đặt mục tiêu phân lập phân đoạn hoạt tính từ chiết xuất SO có tiềm năng kháng viêm cao và xác nhận xem phân đoạn được chọn có tác dụng bảo vệ thần kinh chống lại sự phát triển của PND trên mô hình động vật hay không. Hơn nữa, các thành phần trong phân đoạn được chọn sẽ được xác định bằng phân tích UPLC-PDA. Ba phân đoạn được chuẩn bị bằng sắc ký cột chứa ba loại nhựa resin khác nhau. Hoạt tính kháng viêm của các phân đoạn đã chuẩn bị được đánh giá trên tế bào vi giao BV2 nuôi cấy thông qua giải phóng nitric oxid, biểu hiện gen của các cytokine gây viêm và kích hoạt các phân tử con đường gây viêm JNK và NF-kB. Kết quả của nghiên cứu chứng minh rằng phân đoạn được chuẩn bị từ nhựa D101 (phân đoạn D101) thể hiện tác dụng chống viêm thần kinh mạnh hơn. Tác dụng bảo vệ thần kinh của phân đoạn D101 đã được kiểm tra thêm ở chuột sau phẫu thuật. Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng rối loạn chức năng nhận thức do phẫu thuật đã được làm giảm nhờ điều trị bằng phân đoạn D101. Phân đoạn này cũng làm giảm hoạt hóa tế bào vi giao, các cytokine gây viêm và ức chế các phân tử đường dẫn JNK và NF-kB trong hồi hải mã. Ngoài ra, phân đoạn D101 cải thiện tình trạng giảm số lượng hoặc thay đổi hình dạng các cấu trúc trên đuôi gai (dendrite) của tế bào thần kinh ở hồi hải mã. Vì lý do an toàn, tác dụng chống huyết khối đã được kiểm tra bằng xét nghiệm chảy máu đuôi và không tìm thấy sự thay đổi đáng kể nào về kiểu chảy máu. Phân tích UPLC-PDA chỉ ra rằng các hợp chất flavonoid (rutin, acid isochlorogenic A, acid isochlorogenic C) và terpenoid (darutoside) là những thành phần quan trọng nhất trong phân đoạn D101. Kết quả của chúng tôi củng cố tiềm năng điều trị cũng như tiềm năng thay thế của phân đoạn D101 trong việc cải thiện tình trạng viêm thần kinh sau phẫu thuật và PND tiếp theo trong bối cảnh lâm sàng mà không làm tăng xu hướng chảy máu.
TÁC DỤNG BẢO VỆ TẾ BÀO Β TUYẾN TỤY CỦA HY THIÊM TRONG ĐIỀU KIỆN ĐỘC TÍNH GLUCOSE DO GLUCOSE CAO
Chi-Chang Chang và cs
Appl. Sci. 2021, 11(22), 10963
Độc tính glucose do tế bào β tiếp xúc lâu dài với tình trạng glucose cao (HG) có thể dẫn đến việc tạo ra nhiều gốc oxy phản ứng (ROS), làm giảm hoạt động của các enzym chống oxy hóa, gây tổn thương tế bào và apoptosis, đồng thời gây rối loạn chức năng tiết insulin. Hy thiêm (Sigesbeckia orientalis L.) là một loại thuốc thảo dược dân gian truyền thống được dùng để điều trị rắn cắn, viêm khớp dạng thấp, dị ứng và suy giảm miễn dịch. Nghiên cứu đã đánh giá tác dụng bảo vệ của chiết xuất ethanol hy thiêm (SOE) đối với quá trình chết tế bào và stress oxy hóa ở tế bào β tuyến tụy RIN-m5f được kích thích bởi hai nồng độ HG (50–100 mM). Trong thử nghiệm khả năng sống của tế bào, SOE làm tăng đáng kể tỷ lệ sống sót của tế bào β tuyến tụy trong tình trạng HG. Đối với stress oxy hóa do HG gây ra, việc điều trị SOE làm giảm hiệu quả sự hình thành ROS, tăng hàm lượng glutathione nội bào và điều hòa tăng biểu hiện của các enzym chống oxy hóa, catalase, superoxide dismutase và glutathione peroxidase. Kết quả là, liệu pháp SOE có thể làm giảm tổn thương oxy hóa do độc tính glucose gây ra trên các tế bào β RIN-m5F. Hơn nữa, SOE có chức năng điều hòa tiết insulin ở các tế bào β của tuyến tụy trong các điều kiện khác nhau do HG gây ra. SOE có thể làm giảm sự tiết insulin nội bào đang tăng lên trong điều kiện nồng độ glucose thấp về mức bình thường; ngược lại SOE có thể làm tăng sự tiết insulin nội bào đang giảm xuống trong điều kiện nồng độ glucose tương đối cao về lại mức bình thường. Tóm lại, nghiên cứu này cho thấy SOE có tác dụng bảo vệ các tế bào β của tuyến tụy trong môi trường độc tính glucose do HG kích thích.
Phạm Đức Tân
ĐẶC TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA DỊCH CHIẾT METHANOL TỪ HY THIÊM THU HÁI TẠI RIZE
Mehtap ATAK và cs
KSU J. Agric Nat 28 (4), 1095-1102, 2025
Hy thiêm (Sigesbeckia orientalis Linnaeus) là một vị thuốc thảo dược truyền thống đã được sử dụng từ lâu để điều trị các bệnh viêm. Chi Sigesbeckia gồm ba loài: Sigesbeckia pubescens Markino (SP), Sigesbeckia glabrescens Makino (SG) và Sigesbeckia orientalis (SO). Hy thiêm đã được ứng dụng trong y học phương Đông nhằm giảm các chứng viêm khớp, cải thiện khả năng vận động của khớp và tăng cường khả năng chống độc. Cây phân bố tự nhiên ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Philippines và Việt Nam. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là khu vực Biển Đen, hy thiêm được gọi là Sarıteçan. Trong nghiên cứu này, khả năng chống oxy hóa của dịch chiết methanol từ hy thiêm được đánh giá thông qua xác định hàm lượng polyphenol tổng số (TPMC) và hàm lượng flavonoid toàn phần (TFC). Hoạt tính chống oxy hóa được thẩm định bằng các phép thử khả năng khử sắt (FRAP), khả năng khử ion đồng Cu(II) (CUPRAC) và khả năng khử gốc tự do DPPH. Kết quả cho thấy hàm lượng polyphenol tổng số (TPMC) của dịch chiết S. orientalis đạt 18 ± 0,57 mg GAE/g khối lượng khô, trong khi hàm lượng flavonoid toàn phần (TFC) đạt 8,55 ± 0,21 mg QE/g khối lượng khô. Giá trị DPPH (SC₅₀) được xác định là 380 ± 12 µg/mL, còn hoạt tính CUPRAC và FRAP lần lượt là 74 ± 1,99 và 19 ± 1,38 mg TE/g khối lượng khô. Các kết quả này chứng minh rằng hy thiêm được thu hái tại khu vực Rize İkizdere có đặc tính chống oxy hóa mạnh. Do đó, hy thiêm có tiềm năng đáng kể không chỉ trong y học truyền thống mà còn trong y học bổ trợ hiện đại.
CHIẾT XUẤT HY THIÊM CẢI THIỆN BỆNH THẬN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THỰC NGHIỆM BẰNG CÁCH ĐIỀU HÒA GIẢM CÁC CON ĐƯỜNG TRUYỀN TÍN HIỆU VIÊM VÀ STRESS OXY HÓA
Chung-Ming Chen và cộng sự
Evid Based Complement Alternat Med.2022Aug5;2022:3323745.
doi: 10.1155/2022/3323745
Bệnh đái tháo đường ở trẻ em và các biến chứng của bệnh đang gia tăng trên toàn cầu, đi kèm với sự gia tăng các biến chứng liên quan đến bệnh đái tháo đường. Tình trạng stress oxy hóa và viêm do lượng đường trong máu cao ở bệnh nhân đái tháo đường được coi là các yếu tố nguy cơ liên quan đến sự phát triển của các biến chứng đái tháo đường, bao gồm bệnh thận mạn và sự phát triển theo thành bệnh thận mạn giai đoạn cuối. Những thay đổi về vi mạch trong thận của bệnh nhân đái tháo đường thường dẫn đến bệnh thận mạn, làm trầm trọng thêm bệnh. Chiết xuất hy thiêm (Sigesbeckia orientalis L.), được báo cáo là có hoạt tính chống oxy hóa mạnh và hoạt tính chống viêm tiêu biểu, được sử dụng trong thực hành y học cổ truyền Trung Quốc hiện đại. Thận từ ba nhóm chuột đối chứng (CTR), chuột bị đái tháo đường (DM) do streptozotocin (STZ) gây ra và chuột DM do STZ gây ra được điều trị bằng SOE (DMRx) đã được phân lập để phân tích hình thái và đánh giá miễn dịch mô học. Chỉ những con chuột trong nhóm DM có trọng lượng cơ thể thấp hơn, và lượng đường trong máu cao hơn đáng kể. Kết quả ghi nhận tổn thương thận rõ ràng hơn ở nhóm DM so với các nhóm khác, với biểu hiện là tổn thương cầu thận và tổn thương ống thận, vết loét và nhiều mô liên kết (tăng sinh) tại vùng gian mạch của cầu thận. Nhóm DM không chỉ có mức cytokine, yếu tố hoại tử khối u và dấu hiệu stress oxy hóa, biểu hiện 8-hydroxyguanosine cao hơn mà các yếu tố của con đường yếu tố hạt nhân và các dấu hiệu sinh học của tình trạng vi mạch cũng đã thay đổi. Các rối loạn trên thận này đã giảm bớt ở chuột DMRx so với nhóm DM. Nghiên cứu này kết luận rằng SOE có thể là một loại thuốc hiệu quả với khả năng chống oxy hóa và chống viêm giúp bảo vệ hoặc làm giảm nguy cơ bệnh thận đái tháo đường do stress oxy hóa gây các rối loạn viêm và để chữa lành tổn thương mạch máu trong tình trạng tăng đường huyết.
Vương Đình Tuấn
XÁC ĐỊNH NHANH THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA BA LOÀI DƯỢC LIỆU HY THIÊM (SIEGESBECKIAE HERBA) BẰNG SẮC KÝ LỎNG SIÊU HIỆU NĂNG GHÉP NỐI TỨ CỰC THỜI GIAN BAY (UPLC-QTOF-MS) Guanqi Tao và cs.
Journal of Separation Science. 2023; 46 (16)
Siegesbeckiae Herba (dược liệu hy thiêm) là một vị thuốc trong y học cổ truyền Trung Quốc, có nguồn gốc từ ba loài Siegesbeckia orientalis, S. glabrescens và S. pubescens theo Dược điển Trung Quốc. Tuy nhiên, việc định danh chính xác dược liệu từ ba loài này vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Trong nghiên cứu này, 26 lô dược liệu hy thiêm đã được nhận dạng bằng kỹ thuật mã vạch DNA, đồng thời thành phần hóa học của chúng được xác định bằng sắc ký lỏng siêu hiệu năng ghép nối tứ cực thời gian bay (UPLC-QTOF-MS)Kết quả cho thấy các trình tự ITS2 và ITS1–5.8S–ITS2 có khả năng phân biệt ba loài. Tổng cộng 48 hợp chất đã được nhận diện, trong đó có 12 hợp chất đánh dấu được sàng lọc nhằm phân biệt ba loài bằng phân tích phân biệt bình phương nhỏ nhất từng phần (partial least squares discriminant analysis). Trong số đó, hai diterpenoid 16-O-malonylkirenol và 15-O-malonylkirenol, cùng một diterpenoid mới 15,16-di-O-malonylkirenol đã được phân lập và xác định cấu trúc. Một phương pháp thuận tiện để định danh dược liệu hy thiêm được thiết lập bằng sắc ký lớp mỏng (TLC), sử dụng kirenol và 16-O-acetyl darutoside làm chất chuẩn đối chiếu. Thật bất ngờ, không có lô mẫu nào của S. orientalis chứa kirenol, do đó không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của dược liệu hy thiêm, gợi ý rằng tính hợp lý của việc sử dụng kirenol như một chỉ thị chất lượng cho S. orientalis cần được nghiên cứu thêm. Kết quả nghiên cứu này đóng góp quan trọng cho công tác kiểm soát chất lượng dược liệu hy thiêm.
Lê Huỳnh Thanh Như
CÁC SESQUITERPEN GUAIANOLID VÀ ESTE BENZOAT TỪ BỘ PHẬN TRÊN MẶT ĐẤT CỦA SIEGESBECKIA ORIENTALIS L. VÀ HOẠT TÍNH ỨC CHẾ XANTHIN OXIDASE
Dan Thi Thuy Hang và cs.
Phytochemistry. 2021: 190, 112889
Năm hợp chất chưa từng được mô tả trước đây (gồm bốn sesquiterpen thuộc nhóm guaianolid và một dẫn xuất este benzoat) cùng bảy hợp chất đã biết được phân lập từ bộ phận trên mặt đất của hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.). Cấu trúc hóa học của các hợp chất này được xác định thông qua phân tích chuyên sâu phổ HR-ESI-MS và NMR. Cấu hình tuyệt đối được làm sáng tỏ nhờ phổ ECD thực nghiệm kết hợp với phổ ECD tính toán bằng TD-DFT. Mười hai hợp chất phân lập thể hiện hoạt tính ức chế xanthin oxidase tiềm năng, với giá trị IC₅₀ dao động từ 0,76 ± 0,17 μM đến 31,80 ± 0,97 μM. Nghiên cứu docking phân tử dự đoán rằng năng lượng liên kết của tất cả các hợp chất phân lập với enzym xanthin oxidase đều thấp hơn so với chất đối chứng dương allopurinol. Trong số đó, hai hợp chất benzyl 2-hydroxy-6-O-β-D-glucopyranosylbenzoat và benzyl 2-methoxy-6-O-β-D-glucopyranosylbenzoat không chỉ cho điểm docking tốt nhất mà còn thể hiện hoạt tính ức chế xanthin oxidase in vitro mạnh nhất, với giá trị IC₅₀ lần lượt là 0,76 ± 0,17 μM và 0,98 ± 0,26 μM.
CÁC SESQUITERPEN LACTON TỪ SIEGESBECKIA ORIENTALIS ỨC CHẾ CÁC CHỨC NĂNG TIỀN VIÊM CỦA BẠCH CẦU TRUNG TÍNH NGƯỜI
NS Engels và cs.
Planta Medica 2019; 85(18): 1411
Siegesbeckia orientalis (Asteraceae), thường được gọi là hy thiêm trong y học cổ truyền Việt Nam (TVM), được sử dụng để điều trị viêm khớp, thấp khớp và gout. Trong quá trình sàng lọc ban đầu các chiết xuất từ những cây thuốc sử dụng trong TVM, cao chiết dichloromethan (DCM) từ bộ phận trên mặt đất của S. orientalis cho thấy tác dụng ức chế rõ rệt đối với sự sản sinh interleukin (IL)-8 ở bạch cầu trung tính người.
Nghiên cứu hóa thực vật trên cao chiết DCM có hoạt tính của S. orientalis đã phân lập chín hợp chất. Trong đó, một diterpen 17(13→14)-abeo-ent-3S,13S,16-trihydroxystrob-8(15)-ene được xác định là một chất mới trong tự nhiên.
Các hợp chất phân lập được đánh giá in vitro về tác dụng đối với các chức năng tiền viêm của bạch cầu trung tính người được kích thích, bao gồm: giải phóng IL-8, IL-1β, yếu tố hoại tử khối u (TNF-α) và giải phóng protein hóa ứng động đơn bào 1 (MCP-1), tạo ra các dạng oxy hoạt động (ROS) và biểu hiện các phân tử kết dính (CD11a, CD11b và CD62L).
Bốn sesquiterpen lacton cho thấy tác dụng ức chế sản sinh IL-8 với giá trị IC₅₀ từ 0,7 đến 6,3 µM và ức chế TNF-α với IC₅₀ từ 18,2 đến 31,9 µM. Ngoài ra, các hợp chất này còn ức chế đáng kể sự sản xuất IL-1β, ROS, MCP-1, đồng thời làm giảm biểu hiện các phân tử kết dính CD11a, CD11b và CD62L.
Tóm lại, hoạt tính sinh học của dịch chiết DCM có thể được quy về sự hiện diện của các sesquiterpen lacton, vốn có khả năng tác động lên nhiều con đường tín hiệu tiềm năng, bao gồm con đường NF-κB, một yếu tố điều hòa then chốt của phản ứng viêm trong viêm khớp dạng thấp. Do đó, các kết quả này củng cố cho việc sử dụng truyền thống của S. orientalis trong điều trị đau nhức xương khớp và thấp khớp.
PHÂN BIỆT BA LOÀI DƯỢC LIỆU HY THIÊM (SIEGESBECKIAE HERBA) DỰA TRÊN CÁC CHẤT CHUYỂN HÓA BẰNG PHƯƠNG PHÁP UPLC-QTOF/MS
Hong-xun Tao và cs.
Food and Chemical Toxicology. 2018, 119: 400-406
Nguồn gốc thực vật là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với việc kiểm soát chất lượng của các dược liệu trong y học cổ truyền Trung Quốc (TCM), và có ảnh hưởng lớn đến độ an toàn cũng như hiệu quả của chúng trong ứng dụng lâm sàng. Hiện tượng đa nguồn (multi-origin) được thấy khá phổ biến ở nhiều thuốc cổ truyền Trung Quốc. Dược liệu hy thiêm Siegesbeckiae Herba (SH) là vị thuốc cổ truyền có tác dụng chống thấp khớp, có nguồn gốc từ ba loài thực vật Siegesbeckia pubescens Makino (SP), S. orientalis L. (SO) và S. glabrescens Makino (SG). Trong nghiên cứu này, phương pháp UPLC-QTOF/MS đã được thẩm định và áp dụng thành công để xác định dữ liệu thành phần hóa học của cả ba loài SH. Dữ liệu thu được được phân tích thống kê bằng OPLS-DA và kiểm định F phân tích phương sai một chiều. Sự khác biệt hóa học rõ rệt đã được quan sát thấy giữa các loài SH, và 40 thành phần đã được nhận diện. Cuối cùng, 6 hợp chất được lựa chọn làm chất đánh dấu tiềm năng cho việc phân biệt SP, SO và SG, dựa trên phân bố đặc trưng của từng loài Siegesbeckiae Herba.
Giải phẫu và hóa mô học của các cơ quan sinh dưỡng của Siegesbeckia orientalis (Asteraceae)
Aguilera và cs.
Planta daninha 2004. 22. (4): 483-489
Giải phẫu của các cơ quan sinh dưỡng của hy thiêm trong cấu trúc sơ cấp đã được mô tả, nhấn mạnh sự đặc trưng hóa và hóa mô học của các cấu trúc tiết của nó. Lá, thân và rễ đã được cố định trong FAA50 và ferrous sulphate và được bảo quản trong ethanol 70%. Các lát cắt ngang và dọc đã được xử lý bằng toluidin blue pH 4.0, ruthenium red, phản ứng PAS, thuốc thử Ponceau Xylidine, Sudan Black B và thuốc thử Dragendorff. Về mặt giải phẫu, các cơ quan sinh dưỡng của hy thiêm tương tự như các đặc điểm đã được mô tả cho họ Asteraceae. Rễ bên là triarches và thân là một eustele. Các ống tiết vắng mặt trong rễ và có mặt trong thân và lá. Các cấu trúc này có đường kính thấp, được giới hạn bởi 4 đến 5 tế bào biểu mô. Trong thân, các ống tiết có mặt trong mô mềm vỏ, bên cạnh nội bì và trong mô mềm ruột. Trong lá, chúng liên kết với các bó mạch, đối diện với cả xylem và phloem. Lá là dorsiventral và amphistomatic. Ba loại cấu trúc tiết đã được quan sát: ống tiết, thủy khổng và lông tuyến. Các thử nghiệm hóa mô học cho thấy sự hiện diện của các hợp chất phenolic và alkaloid trong các ống tiết, trong khi các hợp chất lipid và phenolic được tìm thấy trong các lông tuyến. Những kết quả như vậy chỉ ra sự tiết phức tạp được tạo ra bởi các cấu trúc ở loài này.
Sigesbeckia orientalis L.–Loài ngoại lai mới trong hệ thực vật Serbia
Rat M và cs.
Biologia Serbica, 2024, 46: 40-47
Tại Serbia, hy thiêm được phát hiện lần đầu tiên vào năm 2015 trên lãnh thổ Khu bảo tồn thiên nhiên đặc biệt “Obedska bara”. Do đó, phần lớn những gì chúng ta biết về loài này đều dựa trên các nghiên cứu trước đó ở các khu vực lân cận. Đặc điểm hình thái quan trọng nhất của loài này là khả năng hòa nhập với môi trường xung quanh, khiến chúng gần như không thể phân biệt được với các loài khác trong môi trường sống của chúng. Các nghiên cứu thực địa mở rộng được thực hiện hàng năm từ năm 2015 đến năm 2022 đã xác nhận rằng hy thiêm phân bố rộng rãi tại hai địa điểm trong Khu bảo tồn thiên nhiên “Obedska bara”. Địa điểm đầu tiên nằm dọc theo các con đường nhựa dẫn qua các khu rừng dương được canh tác, trong khi địa điểm thứ hai nằm dọc theo các con đường nhựa và trong các khu rừng hỗn giao tự nhiên. Các quần thể đã được thiết lập tại các địa điểm được điều tra vào thời điểm phát hiện đầu tiên. Dựa trên kết quả nghiên cứu, các biện pháp phòng ngừa, diệt trừ và kiểm soát loài xâm lấn này được khuyến nghị cho các nhà quản lý khu bảo tồn.
Sự sinh trưởng của Siegesbeckia orientalis trong điều kiện ánh sáng khác nhau
Aguilera DB và cs. , Planta daninha, 2004. Tập 22. Số (1): 43-51
Nghiên cứu này nhằm mục đích so sánh tác động của việc che bóng lên sự phát triển của cây hy thiêm bằng cách áp dụng phân tích tăng trưởng. Các thí nghiệm được tiến hành trong chậu dưới ánh sáng mặt trời đầy đủ (A) và che bóng 50% (B). Các chỉ số tăng trưởng của cây được xác định vào các thời điểm 14, 28, 42, 56, 80, 94 và 108 ngày sau khi cấy ghép (DAT) đối với A và vào các thời điểm 14, 28, 42, 56, 70, 84, 108, 122, 136 DAT đối với B. Thiết kế thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên, với bốn lần lặp lại. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp phân tích hồi quy. Các mô hình được chọn dựa trên mức độ quan trọng của các hệ số hồi quy, sử dụng kiểm định t lên đến 10% trong hệ số xác định và hiện tượng đang nghiên cứu. Các cây thể hiện hành vi tương tự ở A và B đối với hầu hết các biến được phân tích; Tuy nhiên, những cây trồng dưới bóng râm (bức xạ trung bình là 218 µmol m-² s -¹ ) có chu kỳ canh tác dài hơn (khoảng 140 DAT) với điểm cực đại và cực tiểu của chúng chậm hơn nhiều so với những cây trồng dưới ánh sáng mặt trời đầy đủ (trung bình là 658 µmol m -² s -¹ ), với khoảng 110 DAT. Những cây trồng dưới bóng râm cũng đạt được mức trung bình cao nhất đối với hầu hết các chỉ số được đánh giá, chẳng hạn như diện tích lá, chiều cao, số lá và cụm hoa, tổng sinh khối khô, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng tương đối, tỷ lệ trọng lượng lá, tỷ lệ diện tích lá và diện tích lá cụ thể, cho thấy loài này được ưa chuộng khi che bóng.
Nguyễn Văn Kiên
Tổng quan chi tiết về Siegesbeckia orientalis
Sukanya M. và cs.
Microscopy. 2022. 8. (9):23-32.
Cây thuốc đóng vai trò thiết yếu đối với sức khỏe của cả con người và động vật. Cây hy thiêm, thường được gọi là cây ban Âu, là một loại thảo mộc tự nhiên được trồng quanh năm. Đây là một thành viên của họ Cúc (Asteraceae), đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ để điều trị nhiều loại bệnh. Cây có thể được tìm thấy ở châu Phi và châu Á, cũng như các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới. Bệnh phong, giang mai, vết loét và loét hoại tử đều được điều trị bằng cách bôi ngoài da. Loại thảo mộc này có nhiều thành phần thực vật có hoạt tính sinh học và có lợi, được cho là chịu trách nhiệm cho các đặc tính tăng cường sức khỏe của cây. Sesquiterpen lacton, orientin và diterpen là các chất hóa học có hoạt tính sinh học được phát hiện trong các phần trên mặt đất của cây ban Âu. Sự hiện diện của 3, 7-dimethyl quercetin trong toàn bộ cây đã được ghi nhận. Các đặc tính giảm đau, chống viêm, chống sốt rét, chống thấp khớp, hạ huyết áp, chống nọc rắn, ức chế miễn dịch và chống tăng sinh đã được ghi nhận. Toàn bộ cây từ lâu đã được sử dụng như một loại thuốc hạ đường huyết. Các nghiên cứu về thực vật hóa học trên lá cây hy thiêm đã phát hiện sự hiện diện của cây hy thiêm. Bài tổng quan này nêu bật các công dụng y học, thành phần hóa học và các nghiên cứu dược lý được thực hiện với cây này.
Báo cáo đầu tiên về tuyến trùng nốt sần rễ Meloidogyne hapla lây nhiễm Siegesbeckia orientalis ở Thiểm Tây, Trung Quốc
Yang YW và cs. Plant Disease 2024. 108. 9: 2934.
Hy thiêm thuộc họ Cúc là một loại thuốc y học cổ truyền quan trọng của Trung Quốc kể từ thời nhà Đường (Wang và cộng sự, 2021 ). Do các bộ phận trên mặt đất khô có giá trị dược liệu, hy thiêm được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Một diện tích cây hy thiêm rộng khoảng 600 m 2 có triệu chứng còi cọc và lá héo đã được tìm thấy ở huyện Luonan (34,06°B, 110,26°Đ), tỉnh Thiểm Tây, vào tháng 8 năm 2022. Nhiều khối u đã được quan sát thấy trên rễ của những cây này và mật độ cây non giai đoạn hai (J2) là 260 đến 370 trên 100 cm3 đất. Con cái và trứng đã được mổ ra khỏi rễ bị nhiễm bệnh, và J2 và con đực đã được chiết xuất từ đất để xác định loài. Mẫu tầng sinh môn của con cái ( n = 20) có hình bầu dục, với các cung lưng nhỏ, các vùng bên rõ rệt và các chấm nhỏ trên hậu môn. Đầu của con đực cao và hẹp hơn rõ rệt so với vùng đầu, mở rộng ra khỏi vòng thân đầu tiên. Các phép đo hình thái của con cái ( n = 20) như sau: chiều dài cơ thể (L) = 897,66 ± 50,89 (860,96 đến 949,74) μm, chiều rộng cơ thể (BW) = 577,69 ± 51,01 (489,91 đến 638,65) μm, chiều dài kim (ST) = 14,03 ± 0,63 (13,25 đến 14,97) μm, lỗ tuyến hầu lưng đến gốc kim (DGO) = 4,96 ± 0,47 (4,08 đến 5,37) μm, chiều dài khe âm hộ = 18,82 ± 1,97 (17,24 đến 22,02) μm và khoảng cách từ khe âm hộ đến hậu môn = 13,62 ± 1,22 (12,34 đến 16,18) μm. Các phép đo của con đực ( n = 10) như sau: L = 1.298,73 ± 95,96 (1.202,77 đến 1.394,69) μm, BW = 28,24 ± 2,38 (25,93 đến 30,55) μm, ST = 20,23 ± 0,78 (19,42 đến 21,04) μm, DGO = 4,89 ± 0,44 (4,56 đến 5,22) μm và chiều dài gai = 28,98 ± 1,68 (26,94 đến 31,02) μm. Các phép đo của J2 như sau: L = 375,35 ± 14,02 (341,01 đến 400,46) μm, BW = 15,09 ± 1,47 (12,02 đến 16,82) μm, ST = 12,74 ± 0,61 (11,46 đến 13,84) μm, DGO = 2,58 ± 0,59 (1,61 đến 3,7) μm, chiều dài đuôi = 74,15 ± 13,73 (50,92 đến 95,09) μm và đầu đuôi trong suốt = 11,36 ± 2,27 (9,53 đến 17,85) μm. Những đặc điểm hình thái này phù hợp với đặc điểm của Meloidogyne hapla Chitwood, 1949, như được mô tả bởi Whitehead (1968) . DNA của các cá thể cái đơn lẻ (n = 10) được phân lập bằng phương pháp Proteinase K để định danh phân tử (Kumari và Subbotin 2012). Trình tự vùng rDNA-ITS được khuếch đại và giải trình tự bằng các đoạn mồi rDNA-F/R (TTGATTACGTCCCTGCCCTTT/TTTCACTCGCCGTTACTAAGG) ( Vrain và cộng sự 1992 ). Trình tự 768 bp (mã số GenBank OP542552) giống 99,74% với trình tự rDNA-ITS của M. hapla(JX024147 và OQ269692). Sau đó, các đoạn D2/D3 của rRNA 28S được khuếch đại và giải trình tự bằng các đoạn mồi D2A/D3B (ACAAGTACCGTGAGGGAAAGTTG/TCGGAAGGAACCAGCTACTA) ( McClure và cộng sự, 2012 ). Đoạn 762 bp (OP554218) cho thấy sự giống nhau 100% với trình tự của M. hapla (MN752204 và OM744204). Để xác nhận tính gây bệnh của quần thể, sáu cây giống hy thiêm khỏe mạnh 2 tuần tuổi được nuôi cấy trong cát đã khử trùng, mỗi cây được ủ 2.000 tế bào J2 nở ra từ khối trứng. Bốn cây giống không được ủ với tế bào J2 được dùng làm đối chứng âm tính. Sau khi duy trì ở 25°C trong 60 ngày, các nốt sưng xuất hiện trên rễ của cây được ủ bệnh, phù hợp với các triệu chứng quan sát được ngoài đồng ruộng, trong khi các đối chứng âm tính không có triệu chứng nào. Các cây cái được thu thập từ các cây được ủ bệnh đã được xác định là M. hapla với đoạn mồi đặc hiệu loài JWV1/JWV (Adam và cộng sự, 2007), đoạn mồi này đã khuếch đại một đoạn dài 440 bp. Ký sinh cũng được xác nhận bằng mức phục hồi trung bình là 3.814 J2s trên mỗi cây ủ bệnh với hệ số sinh sản là 1,91. Đây là báo cáo đầu tiên về việc cây hy thiêm là vật chủ của M. hapla . Loại bệnh này làm giảm chất lượng và năng suất của hy thiêm và cần phải nỗ lực hơn nữa để kiểm soát bệnh trong sản xuất.
Chiết xuất ethanol Siegesbeckia orientalis ngăn cản tương tác RAGE-CD11b do HMGB1 thúc đẩy để làm giảm tổn thương tế bào thần kinh liên quan đến bạch cầu trung tính sau đột quỵ
Chen J và cs. Phytomedicine, 2025. 139: 156541.
Đột quỵ thiếu máu cục bộ là một bệnh lý mạch máu não nguy hiểm đến tính mạng với các lựa chọn điều trị hạn chế. Trong quá trình tiến triển của đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính (AIS), phản ứng viêm liên quan đến bạch cầu trung tính qua trung gian của protein high mobility group box 1 (HMGB1) góp phần đáng kể vào việc làm trầm trọng thêm tổn thương tế bào thần kinh. Siegesbeckia orientalis L. (SO), một trong những nguồn chính của dược liệu Hy thiêm (Sigesbeckiae Herba), cho thấy hứa hẹn trong việc chống viêm thần kinh và điều chỉnh chức năng của bạch cầu trung tính. Do đó, người ta cho rằng SO có thể chống lại tổn thương viêm thần kinh sau AIS. Nghiên cứu hiện tại nỗ lực khám phá các tác dụng cải thiện của chiết xuất ethanol của SO (EESO) đối với tổn thương viêm thần kinh sau AIS, và phân tích các cơ chế liên quan tập trung vào việc tuyển mộ bạch cầu trung tính do HMGB1 và sự hình thành bẫy ngoại bào của bạch cầu trung tính (NETs). Mô hình đột quỵ do huyết khối quang hóa (photothrombotic) trên chuột đã được thiết lập để đánh giá tác dụng cải thiện của việc sử dụng EESO chống lại AIS. Kiểm tra mô bệnh học và nhuộm huỳnh quang miễn dịch được tiến hành để quan sát tổn thương thần kinh não, sự thâm nhập của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs. Ngoài ra, các chỉ số viêm và nồng độ HMGB1 trong huyết thanh cũng được phát hiện lần lượt thông qua qPCR và ELISA. Trên in vitro, các ảnh hưởng của việc sử dụng huyết thanh chứa EESO đối với sự di chuyển của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs cũng được đánh giá. Biến nạp mô phỏng biểu hiện quá mức HMGB1 (HMGB1-overexpressed mimic transfection), xét nghiệm dịch chuyển nhiệt tế bào (cellular thermal shift assay) và đồng kết tủa miễn dịch (coimmunoprecipitation) đã được sử dụng để điều tra xem liệu các hợp chất từ huyết thanh chứa EESO có nhắm mục tiêu vào HMGB1 để ngăn chặn tương tác giữa thụ thể của các sản phẩm glycat hóa bền vững (RAGE) và CD11b hay không. Hơn nữa, các hợp chất hoạt tính tiềm năng của EESO nhắm mục tiêu vào HMGB1 đã được sàng lọc và xác minh. Việc sử dụng EESO đã làm giảm bớt tình trạng AIS trên chuột gây ra bởi phương pháp quang hóa, được thể hiện qua việc giảm đáng kể thể tích nhồi máu cũng như cải thiện lưu lượng máu não và các chức năng thần kinh. Hơn nữa, việc sử dụng EESO đã làm giảm rõ rệt tổn thương thần kinh thứ phát, hạn chế sự thâm nhập của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs, cũng như làm giảm nồng độ của các chất trung gian gây viêm (pro-inflammatory mediators) và HMGB1 trong huyết thanh. Trên in vitro, các hợp chất trong huyết thanh chứa EESO đã tương tác trực tiếp với HMGB1 có nguồn gốc từ tế bào thần kinh. Sự di chuyển của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs do HMGB1 gây ra thông qua tương tác RAGE-CD11b cũng bị đảo ngược bởi việc sử dụng huyết thanh chứa EESO. Ngoài ra, isoimperatorin, 4,7-dimethyltetral-1-one, perillartine và darutigenol, với tư cách là các thành phần hoạt tính, đã góp phần vào tác dụng ức chế của EESO lên sự di chuyển của bạch cầu trung tính và sự hình thành NETs do HMGB1.
Chiết xuất Siegesbeckia orientalis L. đảo ngược tình trạng viêm của tế bào vi giao để bảo vệ thần kinh sau đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở chuột.
Bowen L và cs. Current Neuropharmacology, 2025. 23. (13): 1753-1769.
Trong bối cảnh Siegesbeckia orientalis L. (SO - Hy thiêm) là một vị thuốc y học cổ truyền Trung Quốc thường được sử dụng cho các bệnh lý viêm. Trong y học cổ, SO được áp dụng để trị đột quỵ, nhưng cơ chế vẫn chưa rõ ràng. Mục đích (của nghiên cứu này) là để điều tra liệu SO có phát huy tác dụng bảo vệ thần kinh bằng cách giảm tổn thương viêm liên quan đến vi bào đệm (microglia) sau thiếu máu cục bộ/tái tưới máu (I/R) não cục bộ hay không. SO được chiết bằng ethanol 50% và việc kiểm soát chất lượng được thực hiện bằng hệ thống Waters ACQUITY-UPLC CLASS. Mô hình I/R não cục bộ được thiết lập trên chuột, (sau đó) các chức năng thần kinh, sự sụt cân và thể tích nhồi máu đã được đánh giá. Trạng thái của vi bào đệm ở vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) được theo dõi bằng phương pháp nhuộm huỳnh quang miễn dịch và hình thái học. Vi bào đệm sơ cấp của chuột được kích thích bằng lipopolysaccharide (LPS) để kích hoạt phản ứng viêm, đồng thời mô hình đồng nuôi cấy vi bào đệm-tế bào thần kinh (microglia-neuron) được thiết lập in vitro. Sự chết theo chương trình (apoptosis) và chết tế bào kiểu viêm (pyroptosis) của tế bào thần kinh được chứng minh bằng xét nghiệm TUNEL, Western Blot và ELISA. Các cytokine gây viêm được phát hiện bằng qPCR và ELISA. Điều trị bằng SO làm giảm thể tích nhồi máu, cải thiện các chức năng thần kinh, giảm bớt sự chết theo chương trình và chết tế bào kiểu viêm của thần kinh, được thể hiện qua việc tăng tỷ lệ Bcl-2/Bax, giảm Cleaved Caspase-3 và ức chế biểu hiện NLRP3/Caspase-1/GSDMD sau I/R. Hơn nữa, (sự chuyển đổi) trạng thái của vi bào đệm từ tiền viêm (pro-inflammation) sang kháng viêm (anti-inflammation) được đặc trưng bởi sự thay đổi hình thái và sự gia tăng tỷ lệ các tế bào dương tính với CD206/Iba1 sau khi điều trị bằng SO. Ngoài ra, SO làm giảm biểu hiện TLR4 và p65 khu trú ở nhân, ức chế IL-1β, IL-6, IL-18, và TNF-α, nhưng làm tăng tiết IL-10 trên cả mô hình in vivo và in vitro. SO đảo ngược trạng thái tiền viêm của vi bào đệm, được chứng minh bằng việc ức chế chuỗi tín hiệu TLR4/NF-κB, điều hòa giảm các cytokine tiền viêm và điều hòa tăng các cytokine kháng viêm, điều này góp phần vào tác dụng bảo vệ thần kinh, chống lại sự chết tế bào kiểu viêm và chết theo chương trình của tế bào thần kinh sau đột quỵ thiếu máu cục bộ.
Ba diterpen ent-kaurane mới có hoạt tính kháng khuẩn từ Sigesbeckia orientalis
Zhou ZS và cs. Molecules 2024, Tập 29. Số (19): 4631
Ba ent-kaurane diterpenoid mới, gồm sigesbeckin A–C (1–3), cùng với tám hợp chất tương tự đã được biết trước (4–11) được phân lập từ Sigesbeckia orientalis. Cấu trúc hóa học của các hợp chất được xác định thông qua các phương pháp phân tích quang phổ. Tất cả các mẫu phân lập được đánh giá về hoạt tính kháng khuẩn đối với các chủng Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) và Enterococci kháng vancomycin (VRE). Đáng chú ý, các hợp chất 1 và 5 thể hiện mức độ ức chế trung bình với giá trị MIC đạt 64 µg/mL. Ngoài ra, các hợp chất 3, 5 và 11 cho thấy tác dụng hiệp đồng với doxorubicin hydrochloride (DOX) và vancomycin (VAN) trong khả năng kháng lại MRSA và VRE. Những kết quả này cung cấp các bằng chứng có ý nghĩa đối với việc phát triển các phương pháp điều trị thay thế nhằm ứng phó với tình trạng kháng kháng sinh đang gia tăng.
Đỗ Trần Thẩm Thúy
Tác dụng ức chế của chiết xuất cồn Siegesbeckia orientalis đối với sự tăng sinh và di chuyển của tế bào ung thư biểu mô tế bào gan thông qua việc thúc đẩy stress oxy hóa, apoptosis và phản ứng viêm
Chen TH và cs. Pharmaceuticals. 2022. 15. (7): 826.
Các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận rằng Siegesbeckia orientalis (SO) có khả năng ức chế sự tăng trưởng và di chuyển của tế bào ung thư nội mạc tử cung và ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu hiện tại nhằm đánh giá tác dụng của dịch chiết ethanol từ SO (SOE) đối với sự tăng sinh và di chuyển của tế bào ung thư biểu mô tế bào gan (HCC), đồng thời khảo sát ảnh hưởng của SOE trên tế bào không ung thư sử dụng dòng tế bào sừng HaCaT làm mô hình đối chứng. Kết quả cho thấy SOE ức chế mạnh sự tăng sinh của tế bào ung thư gan Hepa1-6 (IC₅₀ = 282,4 μg/mL) và HepG2 (IC₅₀ = 344,3 μg/mL), trong khi độc tính tế bào đối với tế bào HaCaT thấp hơn đáng kể (IC₅₀ = 892,4 μg/mL). Xử lý SOE làm tăng sản sinh ROS trong tế bào HCC và đồng thời làm giảm biểu hiện của các enzyme chống oxy hóa gồm superoxide dismutase, glutathione peroxidase và catalase. Ngược lại, ở các tế bào HaCaT được kích thích bằng H₂O₂, SOE lại làm giảm mức ROS nội bào và tăng cường biểu hiện các enzyme chống oxy hóa liên quan. SOE cũng làm giảm biểu hiện của Bcl-2 – một protein chống apoptosis và các protein liên quan đến di cư tế bào như metalloproteinase chất nền (MMP) và β-catenin trong tế bào HCC, cho thấy SOE có thể thúc đẩy quá trình apoptosis và ức chế khả năng di chuyển của tế bào ung thư gan. Trái lại, SOE làm giảm apoptosis và tăng khả năng di chuyển của tế bào sừng HaCaT. Ngoài ra, xử lý SOE dẫn đến tăng đáng kể mức cytokine tiền viêm, bao gồm TNF-α, IL-6 và IL-1β, ở các tế bào Hepa1-6 và HepG2. Ngược lại, SOE làm giảm đáng kể biểu hiện các cytokine này trong các tế bào HaCaT chịu tác động của H₂O₂. Nhìn chung, các kết quả này cho thấy SOE có thể làm chậm tiến triển của HCC thông qua việc tăng stress oxy hóa, thúc đẩy phản ứng viêm, gây apoptosis và ức chế sự di chuyển của tế bào ung thư. Đồng thời, SOE thể hiện vai trò bảo vệ đối với tế bào không ung thư trong điều kiện stress oxy hóa do H₂O₂ gây ra. Do đó, SOE được xem là một ứng viên tiềm năng cho điều trị ung thư gan.
Tác dụng điều trị của Siegesbeckia orientalis L. và hợp chất hoạt tính luteolin trong điều trị viêm khớp dạng thấp: dược lý học mạng lưới, kết nối phân tử và xác nhận thực nghiệm
Xiao B và cs.
Journal of Ethnopharmacology. 2023. 317: 116852.
Viêm thấp khớp (RA) là một bệnh phổ biến, khó điều trị và có tỷ lệ tàn tật cao. Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.) (SO) là một vị thuốc trong y học cổ truyền Trung Quốc, thường được sử dụng trong điều trị RA trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, tác dụng chống RA và cơ chế tác động của SO, cũng như hợp chất hoạt tính của nó, vẫn chưa được làm sáng tỏ rõ ràng.
Mạng lưới dược lý là một công nghệ tiên tiến cho phép nghiên cứu hiệu quả tác dụng điều trị của thảo dược cùng với cơ chế tác động tiềm ẩn của chúng. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng phương pháp này để khảo sát tác dụng chống RA của SO và sau đó xác minh kết quả dự đoán bằng các phương pháp sinh học phân tử. Nhóm tác giả xây dựng mạng lưới thuốc–thành phần–mục tiêu–bệnh và mạng tương tác protein–protein (PPI) liên quan đến các mục tiêu của SO trong RA, tiếp theo là phân tích tập hợp Gene Ontology (GO) và đường truyền KEGG. Ngoài ra, sử dụng mô hình đại thực bào RAW264.7 kích thích bởi LPS, mô hình tế bào nội mô tĩnh mạch rốn người (HUVEC) cảm ứng bởi VEGFA, và mô hình chuột viêm khớp cảm ứng bằng adjuvant (AIA) để xác minh tác dụng chống RA của SO. Cấu trúc hóa học của SO cũng được xác định bằng UHPLC-TOF-MS/MS.
Phân tích hệ thống mạng dược lý cho thấy các con đường tín hiệu liên quan đến viêm và tạo mạch là những con đường tiềm năng tham gia vào tác dụng chống RA của SO. Trong cả mô hình in vitro và in vivo, nhóm tác giả phát hiện rằng tác dụng chống RA của SO ít nhất một phần là do ức chế tín hiệu thụ thể Toll-like 4 (TLR4). Phân tích kết nối phân tử cho thấy luteolin — một hợp chất hoạt tính trong SO — có số lượng liên kết mục tiêu cao nhất trong mạng lưới hợp chất–mục tiêu và có khả năng liên kết trực tiếp với phức hợp TLR4/MD-2, điều này cũng được xác nhận trên mô hình tế bào. Ngoài ra, hơn 40 hợp chất bao gồm luteolin, darutoside và kaempferol đã được xác định tạm thời thông qua đối chiếu công thức phân tử và phổ khối.
Nhóm tác giả nhận thấy rằng SO và hợp chất hoạt tính luteolin có tác dụng chống viêm khớp dạng thấp và có khả năng ức chế mạnh đường truyền tín hiệu TLR4 cả in vitro và in vivo. Những phát hiện này không chỉ cho thấy ưu điểm củahệ thống mạng dược lý trong việc khám phá thuốc từ thảo dược để điều trị bệnh mà còn gợi ý rằng SO và các hợp chất hoạt tính của nó có thể được phát triển như những thuốc điều trị RA tiềm năng.
Kích hoạt và khả năng chịu đựng của rễ cây Siegesbeckia Orientalis L. đối với stress Cd.
Jianyu X và cs., Frontiers in Plant Science. 2023 Mar 24;14:1145012.
Thí nghiệm này đã điều tra sự thay đổi của môi trường vi sinh vật đất rễ trong hệ thống đất hyperaccumulation dưới stress Cd nhằm làm rõ cơ chế của hyperaccumulation và khả năng chống chịu của cây. Do đó, các phân đoạn Cd, thành phần hóa học và đặc điểm sinh hóa trong đất rễ của Siegesbeckia orientalis L. dưới điều kiện stress Cd từ 0, 5, 10, 25, 50, 100 và 150 mg kg-1 đã được điều tra thông qua một thí nghiệm túi rễ. Kết quả cho thấy, Cd đã gây ra sự axit hóa của đất rễ S. orientalis và thúc đẩy sự tích lũy carbon hữu cơ hòa tan (DOC) và carbon hữu cơ dễ oxy hóa (ROC), tăng lần lượt 28,39% và 6,98% so với đối chứng. Tỷ lệ Cd dễ bay hơi (tan trong axit và có thể khử Cd) trong dung dịch đất đã tăng đáng kể (P < 0,05) từ 31,87% lên 64,60% và từ 26,00% lên 34,49%, tương ứng. Ngoài ra, môi trường vi sinh vật đất rễ có thể giảm thiểu sự ức chế của Cd đối với vi sinh vật và enzyme đất so với đất đại diện. Dưới nồng độ Cd trung bình và thấp, carbon sinh khối vi sinh vật đất rễ (MBC), hô hấp cơ bản, quá trình amoni hóa và quá trình nitrat hóa đã tăng đáng kể (P < 0,05), và hoạt tính của các enzyme chính không bị ức chế đáng kể. Điều này cho thấy rằng sự giảm pH và sự tích lũy carbon hữu cơ (DOC và ROC) làm tăng khả năng sinh học của Cd và có thể đã góp phần vào sự tích lũy Cd trong S. orientalis. Hơn nữa, vi sinh vật và enzyme trong đất rễ có thể nâng cao khả năng chống chịu của S. orientalis đối với Cd, giảm thiểu sự mất cân bằng dinh dưỡng và độc tính do ô nhiễm Cd gây ra. Nghiên cứu này đã làm rõ những thay đổi về tính chất lý hóa và sinh hóa của đất rễ dưới áp lực Cd. Sự axit hóa đất rễ và sự tích lũy carbon hữu cơ là những yếu tố chính thúc đẩy sự hoạt hóa của Cd, và vi sinh vật cùng enzyme là những phản ứng đối với khả năng chống chịu Cd của cây.
Chiết xuất áp suất thủy tĩnh cao của Siegesbeckia orientalis ức chế quá trình hình thành mỡ thông qua kích hoạt con đường truyền tín hiệu Wnt/β-catenin
Kim M-B và cs.,
Food Science and Biotechnology. 2020. 29. (7): 977-985.
Loài hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.) có đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, chống dị ứng, chống vô sinh và ức chế miễn dịch. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả làm sáng tỏ liệu chiết xuất áp suất thủy tĩnh cao của cây Hy thiêm (SPW-HHPE) có hoạt tính chống tạo mỡ hay không. SPW-HHPE ức chế quá trình tạo mỡ bằng cách giảm tích tụ lipid nội bào. SPW-HHPE làm giảm biểu hiện mRNA và protein của các yếu tố điều hòa hình thành mỡ [peroxisome proliferator-activated receptor gamma (PPARγ), CCAAT/enhancer binding protein alpha (C/EBPα) và sterol regulatory element binding protein-1c]. Ngoài ra, SPW-HHPE còn làm giảm mức độ biểu hiện mRNA của các enzyme hình thành mỡ (fatty acid synthase và acetyl-CoA carboxylase) cũng như adipocytokine (adiponectin và leptin). Tác dụng ức chế của SPW-HHPE đối với quá trình sinh mỡ chủ yếu là do sự tăng cường con đường truyền tín hiệu Wnt/β-catenin. Khi siRNA β-catenin được chuyển vào tế bào mỡ 3T3-L1, biểu hiện mRNA của PPARγ và C/EBPα được tăng cường; tuy nhiên, biểu hiện của chúng bị giảm đi bởi SPW-HHPE. Những kết quả này cho thấy SPW-HHPE ức chế quá trình sinh mỡ bằng cách kích thích con đường Wnt/β-catenin.
(Nguồn tin: Viện Dược liệu)