Bản tin dược liệu

BẢN TIN DƯỢC LIỆU SỐ 3 NĂM 2022

 

BẢN TIN CÂY CỐT KHÍ CỦ

STT

Tin dịch

1

CHIẾT XUẤT RESVERATROL SỬ DỤNG GLUCOSE OXIDASE TỪ CỐT KHÍ CỦ NHẬT BẢN (FALLOPIA JAPONICA)

Huaguo Chen, et al.

New Journal of Chemistry.2016 Sep; 40:8131-8140.

Tóm tắt: Resveratrol hay trans-3,5,4′-trihydroxystilbene, là một hợp chất polyphenol tự nhiên có trong một số loài thực vật, bao gồm cốt khí củ Nhật Bản (Fallopia japonica), và có nhiều đặc tính dược lý. Trong nghiên cứu này, việc chiết xuất resveratrol có sự hỗ trợ của enzym từ rễ cây F. japonica đã được thử nghiệm. Mười bốn enzym thương mại đã được sàng lọc, trong đó glucose oxidase nâng cao năng suất chiết xuất của resveratrol cao nhất so với các enzym khác đã được thử nghiệm. Quá trình chiết xuất với sự hỗ trợ của glucose oxidase đã được tối ưu hóa hơn nữa bằng cách thay đổi các thông số xử lý khác nhau. Khi sử dụng 50% metanol làm dung môi, các điều kiện chiết tối ưu là: nhiệt độ 50–60 ° C, pH 6,5–7,5, thời gian chiết 5 ngày và tỷ lệ enzym trên nguyên liệu 6: 100. Ở điều kiện tối ưu, hàm lượng resveratrol đạt được là 24,2 mg g-1 trong các mẫu được xử lý bằng glucose oxidase, tăng hơn 400% so với các mẫu không được xử lý. Sử dụng các hợp chất mô hình để thăm dò các cơ chế có thể xảy ra của phản ứng phân cắt liên kết glycoside được xúc tác bởi glucose oxidase cho thấy rằng enzyme chỉ hoạt động trên liên kết O-glucoside, không hoạt động trên C- hoặc S-glucoside. Hơn nữa, enzyme này hoạt động có chọn lọc trên glycoside liên kết với glucose, chứ không phải trên các loại đường hoặc disaccharide khác có chứa glucose. Glucose oxidase có thể xúc tác ưu tiên phân cắt liên kết lacton của bộ khung glucose, sau đó phân cắt liên kết glucosidic. Sau quy trình này, các đoạn đường có khả năng kết hợp thành glucose.

Trần Anh Quang

2

CHIẾT XUẤT RESVERATROL VÀ GLYCOSIDE CỦA NÓ KHÔNG SỬ DỤNG ETHANOL TỪ CỐT KHÍ CỦ NHẬT BẢN BẰNG DIMETHYL ETHER LỎNG VÀ KHÔNG CẦN XỬ LÝ MẪU

Hideki Kanda, và cs.

Asia‐Pacific Journal of Chemical Engineering. 2021 Feb; e2600

Tóm tắt: Trong đây, chúng tôi đã tiến hành chiết xuất polyphenol resveratrol và glycoside của nó (piceid) từ cây cốt khí củ của Nhật Bản thông qua một phương pháp đơn giản, sử dụng dimethyl ether (DME) làm dung môi. Với chiết xuất DME, các bước sấy khô thông thường và phá vỡ thành tế bào có thể được loại bỏ. Kết quả là, trong chiết xuất DME thu được nhiều resveratrol và piceid hơn so với chiết xuất ethanol thông thường. Bởi vì các thông số về độ hòa tan Hansen của DME gần với ethanol hơn là nước, nó cho phép chúng tôi chiết xuất resveratrol và piceid từ cốt khí củ thô của Nhật Bản tốt hơn so với nước. Đồng thời, 83,5% lượng nước ban đầu và 213 mg / g cao hữu cơ khô được chiết xuất từ cốt khí củ thô của Nhật Bản. Vì chiết xuất DME không liên quan đến việc làm khô và nghiền các chất chống oxy hóa dễ phân hủy, nên nó rất thích hợp để chiết xuất các chất chống oxy hóa.

Đỗ Thị Thùy Linh

3

QUY TRÌNH CHUYỂN HÓA VÀ CHIẾT XUẤT RESVERATROL TỪ CỐT KHÍ CỦ (POLYGONUM CUSPIDATUM)SỬ DỤNG DUNG MÔI EUTECTIC ACID TỰ NHIÊN

Jian-Dong Wang và cs.

Industrial Crops and Products. 2021 Oct; 114140.

Tóm tắt: Resveratrol, một chất chống oxy hóa tự nhiên, đã được nghiên cứu rộng rãi về các đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, chống apxe và chống ung thư. Trong nghiên cứu này, một chiến lược đã được phát triển để chuyển hoá và chiết xuất resveratrol từ cốt khí củ (Polygonum cuspidatum) trên cơ sở NADES (dung môi gây eutectic sâu tự nhiên). Trong một loạt các điều chỉnh và tối ưu hóa bằng thực nghiệm đơn nhân tố, hệ thống NADES tối ưu (tỉ lệ choline clorua thành axit oxalic 1: 1) và các điều kiện thử nghiệm khác đã được xác định, bao gồm hàm lượng nước của NADES, tỷ lệ rắn-lỏng, thời gian chiết, chiết. nhiệt độ và công suất siêu âm. Đồng thời, RSM kết hợp với BBD tối ưu hóa hơn nữa quá trình thực nghiệm, kết quả thu được khi tối ưu hóa RSM cho thấy sản lượng resveratrol 12,31 mg / g đạt được khi tỷ lệ rắn - lỏng là 1:50, nhiệt độ là 75 ℃ và thời gian là 80 phút. Trong khi đó, hiệu suất chuyển hóa của polydatin là 96,11% và hàm lượng resveratrol tăng gấp 6 lần so với mẫu không xử lý. Động học của quá trình chiết xuất và phân tích nhiệt động học được thực hiện ở các nhiệt độ chiết khác nhau để xem xét nhiệt độ về tác động của quá trình chiết xuất resveratrol từ cốt khí củ. Ethyl acetate được sử dụng để chiết xuất ngược nhằm mục đích tái chế dung môi và thu hồi resveratrol từ NADES. Kết quả cho thấy ethyl acetate có hiệu quả chiết xuất tốt và NADES vẫn có khả năng chuyển đổi và chiết xuất resveratrol cao sau ba chu kỳ. Ngoài ra, các chất chiết xuất thể hiện hoạt động chống oxy hóa vượt trội với hàm lượng resveratrol thu hồi cao hơn. Do đó, quy trình đã thiết lập này có thể được sử dụng để chiết xuất và thu hồi resveratrol từ thực vật như một phương pháp thay thế không gây ô nhiễm môi trường.

Trần Anh Quang

4

HỆ GEN LỤC LẠP CỦA CÂY DƯỢC LIỆU CỐT KHÍ CỦ - REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT. (HỌ POLYGONACEAE)

Candassamyvà cs.

 Mitochondrial DNA Part B 5.2 (2020): 1983-1985.

Tóm tắt

Hệ gen lục lạp của loài Cốt khí củ Reynoutria japonica Houtt. đã được giải trình tự trong nghiên cứu này. Hệ gen có kích thước 163,410 bp và có 129 gen mã hoá, bao gồm 86 gen mã hoá protein, 8 gen mã hóarRNA và 36 gen mã hóa tRNA. Cây phát sinh chủng loại trên cơ sở của 14 bộ gen lục lạp thuộc họ Polygonaceae cho thấy loài R. japonica có quan hệ gần gũi với chi Muehlenbeckia.

Nguyễn Hoàng

5

NHẬN BIẾT PHÂN TỬ LOÀI REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT. VÀ LOÀI R. SACHALINENSIS (F.SCHMIDT) NAKAI BẰNG SỬ DỤNG CÁC VỊ TRÍ SNP

Park và cs.

Korean Journal of Plant Resources 28.6 (2015): 743-751.

Tóm tắt

Reynoutria japonicaR. sachalinensis được sử dụng làm thuốc tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, việc định danh và phân biện hai loài thảo dược chính xác này gặp nhiều khó khăn bởi vì chúng thường là dược liệu từ thân dễ bị băm nhỏ. Nhằm phát triển bộ chỉ thị phân tử để phân biệt giữa 2 loài, chúng tôi đã phân tích và so sánh trình tự ADN lục lạp của 7 loci (atpB, matK, accD-psaI, atpF-H, trnL-trnF, psbK-I và rpl32-trnL). Trong số các loci này, Kết quả đã tìm ra được 2 SNPs (singlenucleotide polymorphism - đa hình đơn nucleotid) trong vùng psbK-I ở loài R. japonica và vùng atpF-H ở loài R. sachalinensis. Dựa trên các SNP này, chúng tôi thiết kế mồi đặc hiệu cho loài R. japonica để khuếch đại đoạn DNA có chiều dài khoảng 300bp tại vùng gen psbK-I. Tương tự, loài R. sachalinensis cũng được thiết kế mồi đặc hiệu cho vùng gen atpF-H. Những chỉ thị phân tử này có thể được ứng dụng để nhận biết loài R. japonicaR. sachalinensis.

Nguyễn Hoàng

6

Ý NGHĨA SINH THÁI CỦA VIỆC THAY THẾ CÁC LOÀI THỰC VẬT BẢN ĐỊA TRONG CÁC HỆ THỐNG VEN SÔNG: TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THẢM MỤC LÁ CỐT KHÍ CỦ (REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT.)

Cybill và cs

Biological Invasions (2020), 22:1917–1930

Tóm tắt:

Ở các con sông ở châu Âu, một trong những loài thực vật trên cạn xâm lấn nhiều nhất là Reynoutria japonica Houtt. (Họ Polygonaceae), thường được tìm thấy ở ven sông. Trong nghiên cứu này, các tác động sinh thái của việc thay thế các loài bản địa bằng loài xâm lấn này đã được khám phá. Đặc biệt, chúng tôi đã kiểm tra những thay đổi trong thành phần thảm mục lá và những tác động sau đó của sự phân hủy chúng đối với sự sinh trưởng của cộng đồng thực vật ven sông và dòng suối. Chúng tôi so sánh thảm mục lá từ hai loài ven sông, loài Rubus fruticosus L. agg bản địa (Rosaceae) và cây thay thế tự phát của nó dọc theo các hành lang sông, R. japonica. Các tác động đã được đánh giá thông qua các thử nghiệm về độc tính thực vật đến  một loài thực vật mô hình trên cạn, rau diếp Lactuca sativa var. capitata L. (họ Asteraceae) và một loài thực vật ven sông bán thủy sinh điển hình sinh trưởng trong cùng một vùng ven sông, cải xoong Nasturtium officinale R.Br. (Họ Brassicaceae). Phép đo chiều dài rễ cây con cho phép tính toán chỉ số giảm chiều dài rễ. Thí nghiệm đã được thực hiện trong thời gian phân hủy kéo dài sáu tháng, với các mẫu được lấy cách nhau năm lần. Khả năng gây độc thực vật của R. japonica không nhất quán trong giai đoạn phân hủy, dẫn đến phá vỡ các quá trình điều tiết của loài bản địa có cấu trúc, R. fruticosus. Sự phân hủy của lá R. japonica dẫn đến sự xuất hiện không mong muốn của    cạnh tranh liên tiếp và tương tác thuận lợi. Nghiên cứu này cho thấy các tác động độc tố thực vật khác nhau từphân hủy lá R. japonica, gây ra các hiệu ứng sinh thái khác với các loài bản địa. Trong bối cảnh nơi R. japonica dần dần thay thế các loài sống ven sông bản địa, những tác động đó cần được xem xét thêm vì độc tính thực vật của R. japonica không ngăn cản ổn định các loài khác có hệ quả bù trừ hình thành, bao gồm cả các loài xâm lấn.

Lê Thị Tú Linh

7

CỐT KHÍ CỦ (REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT) ĐỐI VỚI NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở NGƯỜI LỚN VÀ TRẺ EM: TỔNG QUAN

Wang và cs

Front Pharmacol. 2022; 13: 787032.

Tóm tắt:

Giới thiệu: Nhiễm trùng đường hô hấp (RTIs) là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong ở một số nhóm nguy cơ cao bao gồm cả trẻ em và người lớn tuổi. Có bằng chứng cho thấy thuốc thảo dược Trung Quốc có ảnh hưởng đến nhiễm trùng đường hô hấp. Reynoutria japonica Houtt (được biết đến nhiều hơn với tên đồng danh Fallopia japonica (Houtt.) Ronse Decr.) ( F. japonica ), một loại thảo dược được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc, có hàm lượng cao resveratrol và glycoside. Theo lý luận y học cổ truyền Trung Quốc, F. japonica có tác dụng thanh nhiệt trong cơ thể, bồi bổ khí huyết, tiêu đờm, giảm ho nên có thể có tác dụng đối với bệnh nhiễm trùng đường hô hấp.

Phương pháp: Tổng quan hệ thống này đã được đăng ký với số đăng ký PROSPERO CRD42020188604. Cơ sở dữ liệu đã được tìm kiếm cho các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng về F. japonica như một loại thảo mộc đơn lẻ, hoặc một thành phần của một công thức thảo dược hỗn hợp cho bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính. Chất lượng của phương pháp đã được đánh giá bởi hai người phản biện độc lập bằng cách sử dụng Công cụ Rủi ro Bias của Cochrane. Kết quả chính là tỷ lệ cải thiện triệu chứng. Các thước đo kết quả phụ là thời gian hết sốt, điểm tổn thương phổi Murray và tỷ lệ tác dụng phụ. Dữ liệu trích xuất được tổng hợp và phân tích meta bằng phần mềm RevMan.

Kết quả: 8 RCTs với 1.123 người tham gia bị RCTs cấp tính được đưa vào tổng quan hệ thống này, và tất cả các RCTs đều sử dụng F. japonica như một phần của hỗn hợp thảo dược. Chỉ có một thử nghiệm bao gồm sử dụng F. japonica trong một hỗn hợp thảo dược không có kháng sinh trong nhóm điều trị. Các phát hiện cho thấy các phương thuốc thảo dược có thành phần F. japonica có thể làm tăng tỷ lệ cải thiện triệu chứng (tỷ lệ rủi ro 1,14, khoảng tin cậy 95% [1,09, 1,20], I 2 = 0%, p <0,00001, n = 7 thử nghiệm, 1,013 người tham gia), rút ​​ngắn thời gian sốt, giảm điểm tổn thương phổi Murray và không làm tăng các tác dụng phụ (RR 0,33, KTC 95% [0,11, 1,00], I 2 = 0%, p= 0,05, n = 5 thử nghiệm, 676 người tham gia).

Kết luận: Còn hạn chế nhưng một số bằng chứng cho thấy F. japonica là một phần của hỗn hợp thảo dược có thể là một biện pháp can thiệp hiệu quả và an toàn cho bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính trong thực hành lâm sàng. Trong các nghiên cứu trong tương lai, việc đánh giá hiệu quả và độ an toàn của việc sử dụng F. japonica mà không có kháng sinh đối với bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính sẽ được ưu tiên hơn.

Lê Thị Tú Linh

8

HOẠT ĐỘNG CHỮA LÀNH VẾT THƯƠNG IN VITRO CỦA DỊCH CHIẾT TỪ THÂN RỄ CỐT KHÍ CỦ (REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT)

Hadzik và cs

Pharmaceutics 2021, 13(11), 1764

Tóm tắt:

Thân rễ của Reynoutria japonica Houtt. là một loại dược liệu cổ truyền Trung Quốc (Polygoni cuspidati rhizoma, Hu Zhang) được sử dụng để điều trị nhiều bệnh trong đó có hỗ trợ chữa lành vết thương. Mục đích của nghiên cứu này là cung cấp bằng chứng về giá trị của việc sử dụng truyền thống loại thuốc thảo dược này như một phương pháp điều trị chữa bệnh nướu răng cũng như để thu được chiết xuất có hoạt tính cao nhất. Các nghiên cứu in vitro  được thực hiện bằng cách sử dụng nguyên bào sợi nướu nguyên sinh của người (HGFs) để xác định khả năng sống sót (xét nghiệm MTT), tăng sinh tế bào (kính hiển vi quét laser đồng tiêu (CLSM) được sử dụng để hình dung biểu hiện histone 3), di chuyển tế bào (xét nghiệm chữa lành vết thương), và đánh giá sự biểu hiện của collagen type III (nhuộm hóa mô miễn dịch) sau khi ủ với chiết xuất từ ​​R. japonica thân rễ (25% hoặc 40% ethanol hoặc 60% axeton). Ngoài các chất chiết xuất này, nước súc miệng thương mại (chứa chlorhexidine digluconate 0,2%) đã được thử nghiệm như là tiêu chuẩn vàng được lựa chọn để chữa lành nướu trong thực hành nha khoa. Các chiết xuất được nghiên cứu đã được đặc trưng về mặt định tính và định lượng bằng cách sử dụng phương pháp HPLC / DAD / ESI-HR-QTOF-MS đã được xác nhận. Tổng hàm lượng phenol và tannin được xác định bằng cách sử dụng xét nghiệm Folin – Ciocalteu. Nồng độ thấp của tất cả các chất chiết xuất sau 24 giờ ủ làm tăng đáng kể khả năng tồn tại của HGF. Hiệu ứng này rõ rệt nhất ở nồng độ 50 µg / mL, được chọn cho các thí nghiệm tiếp theo. Tất cả các chiết xuất (ở 50 µg / mL) đều kích thích HGF tăng sinh, di chuyển và tăng tổng hợp collagen III, nhưng với sức mạnh khác nhau. Hoạt động tăng sinh và di chuyển được kích thích cao nhất được quan sát thấy sau khi ủ với 25% EtOH, theo phân tích hóa thực vật có thể liên quan đến hàm lượng cao nhất của resveratrol và thành phần thích hợp của procyanidin. Chiết xuất 25% EtOH từ thân rễ R. japonica dường như là một chất chữa lành vết thương ở nướu đầy hứa hẹn xứng đáng được thử nghiệm trên động vật và thử nghiệm lâm sàng.

 Lê Thị Tú Linh

9

GHI NHẬN MỘT CHI MỚI CHO HỆ THỰC VẬT THỔ NHĨ KỲ: REYNOUTRIA (HỌ POLYGONACEAE)

Fergan KARAER và cs.

KSU Journal Agriculture and Nature 23 (3): 606-610.

Tóm tắt

Bài báo này mô tả chi Reynoutria là một chi mới của họ Rau răm (Polygonaceae) được ghi nhận ở Thổ Nhĩ Kỳ. Tiêu bản của R. japonica Houtt. (Polygonaceae) được thu thập từ Terme / Bazlamaç (Samsun). Thêm chi mới này, số lượng chi trong hệ thực vật có hoa ở Thổ Nhĩ Kỳ lên tới 11 và khóa định danh cho các chi thuộc họ Polygonaceae đã được cập nhật. Ngoài ra, tên Thổ Nhĩ Kỳ, mô tả chi tiết, các ảnh, thông tin địa phương và bản đồ phân bố địa lý của loài đã được trình bày trong nghiên cứu này.

Tô Minh Tứ

10

SỰ XÂM HẠI CỦA CỐT KHÍ CỦ (REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT.) VÀ CÁC LOÀI CÓ QUAN HỆ GẦN LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY XÓI MÒN BỜ SUỐI

Brian Colleran và cs.

River Research and Applications, 2020, 36(9), 1962-1969.

Tóm tắt

Cốt khí củ (Reynoutria japonica) và các loài xâm hại khác thuộc chi Reynoutria, được gọi chung là Knotweed s.l. (theo nghĩa rộng), là những loài xâm hại nghiêm trọng trên toàn thế giới, đặc biệt là các khu vực ven sông. Trong khi R. japonica và các loài cốt khí củ khác có thể sinh sản hữu tính, sự phát tán và lan rộng của chúng đến các khu vực mới thường kết hợp với sinh sản vô tính nhờ thân rễ và các đoạn thân. Sau khi thích nghi, các loài các loài cốt khí củ có thể thay thế các loài thực vật ven sông, như vậy, sự ổn định của đất được tạo ra bởi rễ của của các loài bị thay thế sẽ bị mất đi, gây ra hệ quả nghiêm trọng trong việc điều tiết dòng nước. Chúng tôi cho rằng thân rễ và cấu trúc của các loài cốt khí củ tạo ra cho đất, đồng thời làm tăng nguy cơ xói mòn bờ sông, đặc biệt trong các trận lũ. Hơn nữa, áp lực sói mòn tạo ra các vật liệu nhân giống, với các yếu tố dòng chảy lớn hơn tạo ra số lượng lớnvật liệu nhân giống và cung cấp vectơ cho sự lan truyền về phía hạ lưu trong khoảng cách ngắn và dài trong lưu vực. Do đó, xói mòn tạo ra là tác nhân chính cốt khí củ xâm lấn dọc theo dòng nước chảy.. Khi một số chế độ thủy văn thay đổi theo hướng thường xuyên hơn và các sự kiện bão nghiêm trọng sẽ làmi biến đổi khí hậu, các vòng phản hồi tích cực có thể phát sinh ở những vùng này giữa các quẩn thể cốt khí củ tồn tại, sự cố vỡ bờ sông đột ngột và gia tăng thiệt hại do lũ lụt, có thể là những tác động đáng kể đến cơ sở hạ tầng ven sông. Mặc dù sự lây lan tiếp tục của loài xâm hại này có thể gây ra những hậu quả đáng kể về khả năng chống chịu lũ lụt ven sông nếu không được kiểm soát, nhưng nếu thực hiện các hành động để kiểm soát những loài thực vật này có thể sẽ mang lại lợi ích về mặt tài chính, xã hội và sinh thái trong bất kỳ lưu vực nào bị xâm hại.

Tô Minh Tứ

11

CÁC PHƯƠNG THỨC SINH TRƯỞNG VÔ TÍNH CỦA CÂY CỐT KHÍ CỦ (REYNOUTRIA JAPONICA) ĐỂ PHẢN ỨNG VỚI CÁC ĐIỀU KIỆN ÁNH SÁNG, BÓNG RÂM, CẮT TỈA VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ

Francois-Marie Martin và cs.

NeoBiota, 2020, 56: 89-100

Tóm tắt

Nhiều loài thực vật xâm lấn trên thế giới đều có thể nhân giống vô tính, điều này cho thấy nhân giống vô tính mang lại những lợi thế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xâm lấn. Do đó, có được những hiểu biết sâu sắc về sinh trưởng vô tính của các loài thực vật xâm lấn sẽ nâng cao hiểu biết về cơ chế xâm lấn, khả năng phục hồi và nhân rộng của chúng. Thuộc danh sách những loài xâm lấn trên cạn gây nhiều vấn đề nhất, Reynoutria japonica var. japonica Houtt, đã xâm lấn khắp năm châu lục, sinh trưởng phát triển thuận lợi bởi khả năng nhân giống vô tính của nó. Tuy nhiên, các nghiên cứu nhân giống vô tính của nó được nghiên cứu kỹ lưỡng một cách đáng ngạc nhiên; chúng ta vẫn chưa biết cách các cá thể phản ứng với các điều kiện môi trường chính, bao gồm ánh sáng tự nhiên đầy đủ và ánh sáng bị tác động bởi con người.  Để góp phần lý giải thắc mắc này, chúng tôi đã thiết kế một hệ thống thí nghiệm ngoài trời kiểm tra môi trường tự nhiên được kiểm soát, để quan sát sự biến đổi hình thái của R. japonica trong điều kiện đồng nhất hoặc không đồng nhất của ánh sáng tán xạ (bóng râm) và môi trường bị xáo trộn (cắt tỉa). Các đoạn thân rễ được trồng vào giữa các chậu lớn giữa hai khu vực sinh sống bao gồm một hoặc kết hợp ba điều kiện môi trường sau: ánh sáng đầy đủ mà không cắt tỉa, ánh sáng đầy đủ khi cắt tỉa thường xuyên hoặc bóng râm mà không cắt tỉa. Vào cuối thí nghiệm, sinh khối và các đặc điểm liên quan đến sự phát triển của dòng vô tính (chiều dài thân rễ và thân rễ, số nhánh thân rễ và số lượng thân rễ) được đo. Sau 14 tháng, tất cả các cá thể đều sống sót, ngay cả những cá thể thường xuyên bị cắt tỉa hoặc phát triển dưới bóng râm. Chúng tôi đã chỉ ra rằng R. japonica sử dụng dạng tăng trưởng theo dạng ‘khép kín’ khi phát triển trong điều kiện ánh sáng đầy đủ và dạng ‘du kích’ khi được che bóng hoàn toàn. Đặc tính đầu tiên đặc trưng cho loài này là xâm lấn không gian sống, trong khi đặc tính thứ hai liên quan đến kiếm ăn.  Trong các điều kiện không đồng nhất, chúng tôi cũng chỉ ra rằng các dòng vô tính dường như ưu tiên nhiều vào các khu vực môi trường sống thuận lợi hơn là các khu vực không thuận lợi (cắt tỉa hoặc bóng râm), có thể thể hiện đặc tính bò lan khỏi môi trường không thuận lợi. Những quan sát này có thể tăng cường hiểu biết để quản lý loài thực vật xâm lấn này, đặc biệt bằng cách minh họa các biện pháp quản lý sớm, tích cực như thế nào; bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cắt tỉa liên tục, vì loài thực vật này dễ dàng bù đắp cho việc cắt tỉa từng phần và bằng cách thông báo về các phản ứng tiềm năng của nó hướng tới việc khôi phục lớp phủ của các loài thực vật bản địa có khả năng cạnh tranh.

Nguyễn Thị Thúy

12

CẤU TRÚC HỆ GEN VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA HỆ GEN LỤC LẠP REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT. HỆGEN LỤC LẠP

Mengtao Sun và CS

Chinese journal of biotechnology 38(5):1953-1964

Tóm tắt

Reynoutria japonica Houtt., Thuộc họ Polygonaceae, là một loại thảo dược  của Trung Quốc có công dụng tiêu ẩm giảm vàng da, thanh nhiệt và giải độc, tán ứ huyết giảm đau, giảm ho, long đờm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện giải trình tự thông lượng cao cho trình tự hệ gen lục lạp của 5 giống R. japonica và phân tích cấu trúc hệ gen và các biến thể. Hệ gen lục lạp của 5 giống R. japonica có hai kích thước (163 376 bp và 163 371 bp) và cấu trúc tứ diện hình tròn điển hình bao gồm vùng đơn bản sao lớn (LSC) 85 784 bp, một bản sao đơn nhỏ (SSC) vùng 18 616 bp và một cặp vùng lặp lại ngược (IR) (IRa / IRb) được đặt cách xa nhau. Tổng cộng có 161 gen thu được bằng chú thích, bao gồm 106 gen mã hóa protein, 10 gen mã hóa rRNA và 45 gen mã hóa tRNA. Tổng hàm lượng GC là 36,7%. Cụ thể, hàm lượng GC trong các vùng LSC, SSC và IR lần lượt là 34,8%, 30,7% và 42,7%. So sánh toàn bộ bộ gen lục lạp trong số 5 giống cây trồng cho thấy rằng trnk-UUU, rpoC1, petD, rpl16, ndhA và rpl12 trong các vùng mã hóa có sự khác biệt về trình tự. Trong cây phát sinh loài được xây dựng cho 11 mẫu của họ Polygoneae, 5 loài R. japonica phân nhómthành 1 nhánh gần gốc và là một nhóm chị em của Fallopia multiflora (Thunb.)

Đinh Thanh Giảng

13

SỬ DỤNG GEN LEAFY NHÂN ĐỂ TÁI TẠO LẠI MỐI QUAN HỆ PHÁT SINH LOÀI GIỮA CÁC QUẦN THỂ CÂY CỐT KHÍ CỦ XÂM LẤN (REYNOUTRIA, HỌ POLYGONACEAE)

Nicholas P. Tippery và CS

Invasive Plant Science and Management , 2021,14(2):1-9

Tóm tắt

Các loài cốt khí củ trong chi Reynoutria có nguồn gốc từ Đông Á nhưng đã trở thành loài cỏ dại độc hại ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Tại Hoa Kỳ, các quần thể xâm lấn của cốt khí củ Nhật Bản (Reynoutria japonica Houtt.), cốt khí củ khổng lồ [Reynoutria sachalinensis (F. Schmidt) Nakai], và loài lai giữa chúng được gọi là cốt khí củ Bohemian (R. × bohemica Chrtek & Chrtková) tiếp tục mở rộng phạm vi của chúng. Mặc dù những loài thực vật này là một trong những loài xâm lấn trên cạn, nhưng có tương đối ít công cụ phân tử để xác định loài bố mẹ, giống lai F1, hoặc các các thế hệ giống lai sau đó hoặc các cá thể nhập nội. Chúng tôi đã nghiên cứu các quần thể Reynoutria ở Wisconsin, một tiểu bang mà cả ba taxa phân loại này đều phát triển, để xác định liệu dữ liệu phân tử có hữu ích cho việc phân biệt các loài và xác định các giống lai hay không. Chúng tôi thu được dữ liệu trình tự DNA từ gen matK lục lạp và gen LEAFY nhân và so sánh chúng với các trình tự đã được công bố trước đây. Dữ liệu từ vùng matK được di truyền không rõ ràng quy về các kiểu đơn bội do R. japonicaR. sachalinensis. Dữ liệu nhân chỉ ra rằng cây R. sachalinensis gần giống với cây bản địa ở Nhật Bản, với mẫu Wisconsin biểu hiện kiểu gen đơn hình đối với gen LEAFY. Ba mẫu Wisconsin của R. japonica, mỗi mẫu được đặc trưng bởi có ba loại trình tự LEAFY riêng biệt. Hầu hết các trong nghiên cứu của chúng tôi được phát hiện sở hữu hai hoặc ba bản sao gen LEAFY khác biệt về mặt phát sinh loài, với các bản sao có liên quan chặt chẽ nhất với R. japonicaR. sachalinensis, và chúng được suy ra là các cây lai giữa các loài Tổng lại, 5 cây lai giữa các loài đã được xác định, phản ánh sự kết hợp khác nhau của các loại trình tự LEAFY từ các loài bố mẹ. Sự tồn tại rộng rãi của các cây lai ở Wisconsin, nhiều cây trong số đó có thể nhận dạng hình thái là R. japonica, cho thấy sự đa dạng di truyền khó hiểu cần được kiểm tra rộng rãi hơn ở Bắc Mỹ bằng sử dụng các công cụ phân tử.

Đinh Thanh Giảng

14

ĐÁNH GIÁ CÁC PHẢN ỨNG QUANG HỢP PHỤ THUỘC VÀO ÁNH SÁNG Ở LÁ CÂY REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT. TRỒNG Ở CÁC ĐIỀU KIỆN ÁNH SÁNG KHÁC NHAU

Selma Mlinarić và CSFront Plant Sci. 2021, 4, 12:612702

Tóm tắt

Cốt khí củ Nhật Bản (Reynoutria japonica Houtt.) được coi là một trong những loài thực vật xâm lấn mạnh mẽ và thành công nhất với tác động tiêu cực đến môi trường sống bị xâm lấn. Sự mở rộng không kiểm soát của nó đã trở thành một mối đe dọa đáng kể đối với các loài bản địa trên khắp châu Âu. Do có hệ thống thân rễ rộng, phát triển nhanh và hoạt động dị dưỡng, nó thường hình thành các loài đơn canh ảnh hưởng tiêu cực đến thảm thực vật gần đó. Sự điều chỉnh hiệu quả của việc phân vùng và sử dụng năng lượng trong quá trình quang hợp cho phép thực vật xâm lấn thích nghi nhanh chóng với nhiều điều kiện môi trường khác nhau. Vì vậy, chúng tôi nhằm xác định ảnh hưởng của điều kiện ánh sáng đến phản ứng quang hợp ở cốt khí củ Nhật Bản. Cây được trồng ở hai chế độ ánh sáng khác nhau, đó là ánh sáng yếu liên tục (CLL, 40 μmol / m 2 / s) và ánh sáng dao động (FL, 0-1.250 μmol / m2 / s). Để đánh giá hiệu suất quang hợp, huỳnh quang trực tiếp và điều chế của diệp lục a đã được đo. Các cây trồng tại CLL được coi là đối chứng. Các phép đo quang hợp cho thấy sự ổn định của hệ thống quang sáng II (PSII) tốt hơn và trung tâm chức năng tiến hóa-oxy của cây được trồng ở FL. Chúng cũng thể hiện sự chuyển đổi hiệu quả hơn năng lượng kích thích thành vận chuyển điện tử và vận chuyển điện tử hiệu quả hơn chất nhận điện tử sơ cấp QA, tất cả các con đườngtới PSI. Hoạt động quang hóa nâng cao của pha sáng PSI cho thấy sự hình thành một cơ chế thích ứng thành công bằng cách điều hòa sự phân bố năng lượng kích thích giữa PSII và PSI để giảm thiểu tác hại của quang oxy hóa. Quá trình oxy hóa nhanh hơn ở phía PSI có lẽ dẫn đến việc tạo ra chuỗi điện tử tuần hoàn xung quanh PSI. Bên cạnh đó, việc tiếp xúc trong thời gian ngắn của cây cốt khí củ trồng ở FL với cường độ ánh sáng cao đã làm tăng năng suất gây ra bởi các quá trình điều hòa âm, cho thấy rằng sự tạo ra chuỗi điện tử tuần hoàn đã bảo vệ PSI khỏi sự ức chế quang.

Đinh Thanh Giảng, Nguyễn Thị Thúy

15

HOẠT ĐỘNG CHỮA LÀNH VẾT THƯƠNG NƯỚU RĂNG IN VITRO  CỦA CHIẾT XUẤT TỪ THÂN RỄ REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT.

Izabela Nawrot-Hadzik và CS Pharmaceutics 2021, 13(11), 1764

Tóm tắt

Thân rễ của Reynoutria japonica Houtt. là một loại dược liệu cổ  truyền của Trung Quốc (Polygoni cuspidati rhizoma, hu zhang) được sử dụng để điều trị nhiều bệnh trong đó có hỗ trợ chữa lành vết thương. Mục đích của nghiên cứu này là cung cấp bằng chứng về giá trị của việc sử dụng thuốc thảo dược cổ truyền này như một phương pháp điều trị chữa nành vết thương nướu răng cũng như để thu được chiết xuất có hoạt tính cao nhất. Các nghiên cứu in vitro được thực hiện bằng cách sử dụng nguyên bào sợi nướu nguyên sinh của người (HGFs) để xác định khả năng sống sót (phân tích MTT), tăng sinh tế bào (kính hiển vi quét laser đồng tiêu (CLSM) được sử dụng để quan sát biểu hiện histone 3), di chuyển tế bào (phân tích chữa lành vết thương), và đánh giá sự biểu hiện của collagen loại III (nhuộm tế bào miễn dịch) sau khi ủ với chiết xuất từ ​​thân rễ R. japonica (25% hoặc 40% ethanol hoặc 60% aceton). Ngoài các chất chiết xuất này, nước súc miệng thương mại (chứa chlorhexidine digluconate 0,2%) đã được thử nghiệm như là tiêu chuẩn vàng được lựa chọn để chữa lành nướu trong thực hành nha khoa. Các chiết xuất nghiên cứu đã được đặc trưng về định tính và định lượng bằng sử dụng phương pháp HPLC / DAD / ESI-HR-QTOF-MS đã được chứng nhận. Tổng hàm lượng phenol và tannin được xác định bằng sử dụng xét nghiệm Folin – Ciocalteu. Nồng độ thấp của tất cả các chất chiết xuất sau 24 giờ ủ làm tăng đáng kể khả năng tồn tại của HGF. Hiệu ứng này rõ rệt nhất ở nồng độ 50 µg / mL, được chọn cho các thí nghiệm tiếp theo. Tất cả các chiết xuất (ở 50 µg / mL) đều kích thích HGF tăng sinh, di chuyển và tăng tổng hợp collagen III, nhưng với mức khác nhau. Hoạt động tăng sinh và di chuyển kích thích cao nhất được quan sát thấy sau khi ủ với 25% EtOH, theo phân tích hóa thực vật có thể liên quan đến hàm lượng cao nhất của hoạt chất resveratrol và thành phần thích hợp của procyanidin. Chiết xuất 25% EtOH từ thân rễ R. japonica dường như là một chất làm lành vết thương ở nướu răng đầy hứa hẹn xứng đáng được thử nghiệm trên động vật và lâm sàng

Nguyễn Đức Mạnh

16

CÁC HỆ QUẢ SINH THÁI CỦA VIỆC THAY THẾ CÁC LOÀI THỰC VẬT BẢN ĐỊA TRONG CÁC HỆ THỐNG VEN SÔNG: TÁC DỤNG KHÔNG MONG ĐỢI CỦA LÁ RỤNG LOÀI  REYNOUTRIA JAPONICA HOUTT.

Staentzel Cybill và CS 

Biological Invasions, 2020,22:1917-1930.Tóm tắt

Ở các con sông ở châu Âu, một trong những loài thực vật trên cạn xâm lấn nhiều nhất, Reynoutria japonica Houtt. (Polygonaceae), thường được tìm thấy ở vùng tiếp giáp nước-đất. Trong nghiên cứu này, các tác động sinh thái của việc thay thế các loài bản địa bằng các loài xâm lấn này đã được khám phá. Đặc biệt, chúng tôi đã kiểm tra những thay đổi trong thành phần lớp lá và những tác động sau đó của sự phân hủy chúng đối với sự phát triển của cộng đồng thực vật ven sông và ven suối. Chúng tôi so sánh thảm mục từ hai loài ven sông, Rubus fruticosus L. agg bản địa. (Rosaceae) và cây thay thế tự phát của nó dọc theo các hành lang sông, R. japonica. Các tác động được đánh giá thông qua các thử nghiệm về độc tính thực vật trên (1) một loài thực vật mô hình trên cạn, rau diếp Lactuca sativa var. capitata L. (họ Cúc) và (2) một loài thực vật ven sông bán thủy sinh điển hình mọc trong cùng một vùng ven sông, cải xoong Nasturtium officinale R. Br. (Họ Cải). Phép đo chiều dài rễ cây con cho phép tính toán chỉ số giảm chiều dài rễ. Thí nghiệm được thực hiện trong thời gian phân hủy kéo dài sáu tháng, với các mẫu được lấy cách nhau năm lần. Khả năng gây độc thực vật của R. japonica không nhất quán trong giai đoạn phân hủy, dẫn đến phá vỡ các quá trình điều tiết của loài bản địa có cấu trúc, R. fruticosus. Sự phân hủy của lá R. japonica dẫn đến sự xuất hiện bất ngờ của các tương tác tạo thuận lợi và cạnh tranh liên tiếp. Nghiên cứu này cho thấy các tác động độc tố thực vật khác biệt từ sự phân hủy của lá R. japonica, gây ra các tác động sinh thái khác với các loài bản địa. Trong bối cảnh R. japonica dần dần thay thế các loài sống ven sông bản địa, những tác động đó cần được xem xét thêm vì độc tính thực vật của R. japonica không ngăn cản sự phát sinh các loài khác có hệ quả tương tự hình thành, bao gồm cả các loài xâm lấn.

Nguyễn Đức Mạnh

17

TÁC DỤNG CỦA CHIẾT XUẤT HẠT NẢY MẦM VÀ HẠT NGỦ NGHỈ CỦA LOÀI Reynoutria japonica CHỐNG LẠI NẤM BỆNH TRÊN CÂY Triticum aestivum L., Hordeum vulgare L., và Glycine max (L.) Merr

Borovaya Lukyanchuk và CS

Organic Agriculture. 2020 (10): 89 - 95.

Một hướng đi đầy hứa hẹn trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ là kích thích sinh trưởng và phát triển của cây trồng, tạo sức đề kháng với mầm bệnh bằng cách sử dụng các hoạt chất sinh học có nguồn gốc thực vật. Theo quan điểm này, điều quan tâm đặc biệt hiện tại là thực vật có hoạt tính allelopathic thuộc cốt khỉ củ Nhật Bản ( Reynoutria japonica Houtt.), là một loài thực vật xâm lấn mạnh, phổ biến rộng rãi ở các nước Tây Âu, ở Hoa Kỳ, và một phần châu Âu của Nga. Các dung dịch được khử trùng với các nồng độ 0,5%, 1%, 5%, 10%, 15% và 20% đã thu được từ 70%  EtOH chiết xuất từ  sinh khối tươi của R. japonica được sử dụng để phun thử nghiệm nuôi cấy hạt giống; Triticum aestivum L., Hordeum vulgare L., và Glycine max (L.) Merr. được nảy mầm ở nhiệt độ 20 ± 1°C trong chậu trồng. Các nồng độ được nghiên cứu của chiết xuất có hoạt tính kháng nấm và kích thích nảy mầm và hạt nảy mầm so với đối chứng không được xử lý. Hiệu quả tích cực tối đa đối với quá trình phát triển của hạt của các mẫu cấy thử nghiệm có dung dịch chiết xuất ở nồng độ 1% và 5% - sự nảy mầm tăng lên 93,5–99,5%, cao hơn so với đối chứng 7 - 21%. Việc tăng nồng độ của dung dịch trên 5% không làm tăng hiệu quả của dịch chiết. Điều thú vị là trong quá trình xử lý cây trồng với cùng nồng độ dung dịch chiết xuất của R. japonica, phản ứng hóa sinh của T. aestivum cao hơn của H. vulgare và G. max. Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết R. japonica đối với khả năng tồn tại của nấm Septoria glycines Hemmi, kết quả chỉ ra rằng dung dịch 1% chiết xuất ức chế sự phát triển của S. glycines: chỉ 75% tổng số bào tử được đặt trong Buồng điềuhòa  nhiệt đã nảy mầm trong khi 90% số bào tử có thể sống được ở đối chứng.

Khuất Thị Chung

18

ẢNH HƯỞNG CỦA CHIẾT XUẤT CÂY CỐT KHÍ CỦ (Reynoutria japonica Houtt.) ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA NẤM Fusarium sp.

Maria Ivasenko et al

AIP Conference Proceedings. 2021,  2388,  (1): 020008

Thuốc trừ sâu sinh học có thể là một giải pháp thay thế cho việc sử dụng các hóa chất tổng hợp trong nông nghiệp. Các loài cốt khí củ  ( Reynoutria  japonica và  Reynoutria sachalinensis ) được biết đến là những cây tạo ra các chất có hoạt tính sinh học bao gồm các chất hóa sinh có đặc tính diệt nấm bệnh. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm hiểu tác dụng của chiết xuất  từ R. japonica Houtt. chống lại sự nuôi cấy thuần của Fusarium sp. ZhI được phân lập từ lá dâu tây bị nhiễm nấm. Tác dụng ức chế của dịch chiết trong ethanol của  R. japonica đối với nấm gây bệnh đã được thể hiện ở nồng độ 5%. Việc bổ sung dịch chiết ở nồng độ này vào môi trường sinh trưởng đã làm giảm một cách chính xác đường kính của khuẩn lạc Fusarium sp. ZhI và tốc độ phát triển của chúng.

Khuất Thị Chung

19

LOÀI CÂY XÂM LẤN Reynoutria japonica TẠO RA LƯỢNG LỚN HỢP CHẤT PHENOLIC VÀ LÀM GIẢM SINH KHỐI NHƯNG KHÔNG GIẢM HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÁC QUẦN XÃ VI SINH VẬT ĐẤT

Stefanowicz, Anna M., et al.

Science of the Total Environment .2021,  767: 145439.

Reynoutria japonica là một trong những loài thực vật xâm lấn phổ biến nhất. Sự xâm lấn thành công của chúng trong môi trường sống mới có thể liên quan đến việc giải phóng các chất chuyển hóa thứ cấp. Mục đích của nghiên cứu này là so sánh nồng độ phenol trong sinh khối thực vật và đất giữa các ô được xử lý hợp chất và ô đối chứng, và xác định ảnh hưởng của các hợp chất này đối với các quần xã vi sinh vật trong đất. Các mẫu chồi cây và thân rễ/ rễ cây, và đất được thu thập từ 25 ô đất bỏ hoang và ven sông ở Ba Lan. Chúng tôi đã đo nồng độ của phenol tổng số, catechin, axit chlorogenic, emodin, epicatechin, hyperoside, physcion, piceatannol, polydatin, procyanidin B3, quercetin, resveratrol và resveratrolosid. Các thông số vi sinh vật trong đất được biểu thị bằng axit và kiềm phosphomonoesterase, β-glucosidase, phenoloxidase, và hoạt tính peroxidase, hoạt tính của vi khuẩn có thể nuôi cấy và tính đa dạng chức năng được đo bằng Biolog Ecoplates, sinh khối vi sinh và cấu trúc quần xã được đo bằng phân tích axit béo phospholipid (PLFA). Chúng tôi nhận thấy rằng nồng độ của phenol tổng số và tannin cô đặc là rất cao trong lá và thân rễ / rễ của R. japonica, và nồng độ của hầu hết các hợp chất phenolic là rất cao trong và các ô cây đối chứng; hoạt tính peroxidase cao hơn, trong khi tính đa dạng về chức năng thấp hơn trong đất có cây R. japonica. Các tác động tiêu cực của R. japonica đối với sinh khối vi sinh vật có thể liên quan đến catechin hoặc các polyme của chúng (proanthocyanidins) hoặc các phenol khác chứa ở nồng độ cao trong thân rễ R. japonica.

Đào Thu Huế

 

20

SỰ XÂM LẤN CỦA LOÀI Reynoutria japonica ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC ĐẾN CÁC QUẦN XÃNẤM RỄ CỘNG SINH BẤT KỂ MÙA VỤ VÀ ĐIỀU KIỆN ĐẤT ĐAI

Szymon Zubek et al

Applied Soil Ecology, 2022,.169: 104152.

Reynoutria japonica (cốt khí củ Nhật Bản) là một trong những loài thực vật xâm lấn mạnh nhất trên toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn chưa đủ hiểu biết về tác động của sự xâm nhập của chúng đối với nấm rễ cộng sinh (AMF, Glomeromycota). Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá tình trạng của các quần xã AMF dưới ảnh hưởng của R. japonica và xác định sự thay đổi phụ thuộc vào thời gian và địa điểm của ảnh hưởng này. Chúng tôi đã nghiên cứu số lượng bào tử AMF, độ phong phú của loài và thành phần cũng như sinh khối của các cặp ô liền kề chứa R. japonica và các loài thực vật bản địa. Chúng tôi thiết lập các cặp ô thí nghiệm trong các điều kiện môi trường sống khác nhau (điều kiện đất nhẹ và nặng hơn), và chúng tôi lấy mẫu chúng bốn lần (hai lần vào mùa xuân và hai lần vào mùa hè) để kiểm tra xem tác động tiềm ẩn của loài xâm lấn đối với quần thể AMF là đất - hay phụ thuộc vào mùa vụ. Chúng tôi nhận thấy rằng sự xâm nhập làm giảm số lượng bào tử AMF, sự phong phú của loài và sinh khối, nhưng không ảnh hưởng đến thành phần loài AMF. Các thông số AMF thay đổi theo thời gian (số lượng bào tử, thành phần loài và sinh khối) và phụ thuộc vào điều kiện đất đai (độ phong phú của loài), nhưng hầu như không bị ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa các yếu tố được nghiên cứu. Sự xuất hiện thấp hơn của các quần thể AMF trong ô chứa R. japonica  có thể là do sự thay đổi của các nấm rễ cộng sinh trên cây bản địa. Việc thay đổi này không hoàn chỉnh vì một số nấm rễ cộng sinh, đặc biệt là những loại chóng tàn, đã có thể sống sót sau khi xâm nhập. Chúng có thể đáng tin cậy cho việc duy trì các quần thể AMF trong các vùng  R. japonica . Kết luận, các quần xã AMF bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự xâm nhập, nhưng R. japonica không loại bỏ hoàn toàn AMF, đó là kết quả tích cực đối với quan điểm khôi phục các địa điểm bị xâm lấn bởi loài thực vật ngoại lai không có nấm rễ cộng sinh.

Khuất Thị Chung

BẢN TIN CÂY CỦ MÀI

STT

Tin dịch

1

NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG THÂN RỄ CỦ MÀI (DIOSCOREA PERSIMILIS)

He B và cs.

Journal of Chinese Medicinal Materials. 2002 Apr;25(4):233-237.

Tóm tắt:

Mục tiêu

Đánh giá chất lượng Thân rễ của củ mài D. persimilis Prain et Burk.

Phương pháp

Xác định hàm lượng của 6 chỉ số định tính trong các mẫu Thân rễ của củ mài D. persimilis Prain et Burk được trồng ở Yongning, Bobai, Beiliu, Guiping và Rongxian của Quảng Tây và trong mẫu thân rễ của Dioscorea opposita Thunb, được trồng ở Wenxian, Hà Nam tỉnh.

Các kết quả

Hàm lượng nước trong mẫu (%): 15,39, 18,52, 15,41, 13,96, 15,48, 15,74; hàm lượng protein trong mẫu (%): 7,06, 8,45, 9,20, 9,67, 8,63, 9,79; Hàm lượng tinh bột trong mẫu (%): 84,51, 86,51, 82,72, 83,65, 84,19, 79,13; Hàm lượng cao nước chiết trong mẫu (%): 6,19, 6,98, 8,95, 7,41, 6,70, 9,40; Hàm lượng cao  EtOH 90% chiết trong mẫu (%): 2,00, 2,04, 2,68, 2,20, 2,11, 3,53; hàm lượng của 18 loại axit amin trong mẫu (%): 5,23, 6,31, 6,22, 6,78, 6,59, 6,83.

Kết luận

Chất lượng của thân rễ củ mài D. persimilis Prain et Burk trồng ở Guiping hoặc Beiliu tốt hơn so với thân rễ củ mài D. persimilis Prain et Burk trồng ở Yongning. Chất lượng của Thân rễ củ mài D. persimilis Prain et Burk được trồng ở Rongxian hoặc Bobai nằm giữa chất lượng của Thân rễ của củ mài D. persimilis Prain et Burk được trồng ở Guiping hoặc Beiliu và Thân rễ của D. persimilis Prain et Burk được trồng ở Yonging. Chất lượng của Thân rễ D. persimilis Prain et Burk được trồng ở Guiping hoặc Beiliu cũng tương tự như ở Yam.

Phạm Anh Minh

2

CÁC HỢP CHẤT CHUYỂN HOÁ THỨ CẤP TỪ CỦ MÀI (DIOSCOREA PERSIMILIS)

Nguyen Thi Thanh Ngan và cs.

Vietnam Journal of Chemistry.2021 Oct; 59: 684-688.

Tómtắt:Bảy chất chuyển hóa thứ cấp được phân lập từ phân đoạn nước của củ mài Dioscoreapersimilis bằng cách sử dụng kết hợp các kỹ thuật sắc ký. Cấu trúc của chúng được xác định là 4-O- (6′-O-glucosyl-4 ′ ′ - hydroxybenzoyl) -4-hydroxybenzyl alcohol (1), trans-N-p-coumaroyltyramine (2), cyclo- (Phe-Tyr) (3 ), syringaresinol (4), syringaresinol O-β-D-glucopyranoside (5), corchoionoside C (6) và oct-1-en-3-yl arabinopyranosyl- (1 → 6) -β-glucopyranoside (7) bởi Phương pháp NMR và MS 1D và 2D so với dữ liệu được báo cáo trong tài liệu. Ngoài ra, độc tính tế bào yếu trên các dòng tế bào ung thư HepG2, MCF7 và SK-Mel-2 đã được quan sát thấy đối với các hợp chất 1-3. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên báo cáo về sự phân lập, làm sáng tỏ cấu trúc và độc tính tế bào của hợp chất 1.

Phạm Anh Minh

3

GIẢI TRÌNH TỰ HỆ GEN LỤC LẠP CỦA LOÀI CỦ NÂU (DIOSCOREA PERSIMILIS PRAIN ET BURKILL (HỌ DIOSCOREACEAE)

Cao và cs.

Mitochondrial DNA Part B 5.1 (2020): 451-452.

Tóm tắt

Loài Củ mài (Dioscorea persimilis)thuộc chi Dioscorea, được coi là một trong những loại thực phẩm và vị thuốc cổ truyền thông dụng nhất tại Trung Quốc. Hệ gen lục lạp toàn phần của loài D. persimilis đã được xác định trong nghiên cứu này. Kích thước hệ gen toàn phần dài 153.219 bp, cómột vùng lặp lại đảo đoạn (Irs) dài  25.477bp được phân tách bởi vùng bản sao đơn lớn (LSC) và vùng bản sao đơn nhỏ (SSC) có kích thước lần lượt là 83.448bp và 18.817bp. Hàm lượngGC là 37,01%. Tổng cộng 129 gen đã được dự đoán bao gồm 84 gen mã hoá protein, 8 gen mã hóa rRNA và 37 gen mã hóa tRNA. Phân tích cây phát sinh chủng loại của 24 loài thuộc chi Dioscorea cho thấy loài D. persimilis có mối quan hệ gần với loài Khoai từ Trung Quốc (Chinese yam) - Dioscorea polystachya, tách biệt với loài Khoai mỡ Guinê (D. rotundata) và Khoai mỡ Guinea vàng (D. cayenensis).

Nguyễn Hoàng

4

MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN VÀ NHẬN BIẾT LOÀI DIOSCOREA POLYSATCHYA TURCZ. Ở CỦ TỪ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH BỞI CÁC CHỈ THỊ ISSR, ISAP, SRAP và  SCAR

Yue và cs

Genetic Resources and Crop Evolution 69, 1953 – 1964 (2022)

Tóm tắt:

Dioscorea polystachya Turcz. là loài thảo dược đích thực trong y học cổ truyền Trung Quốc. Trên thị trường thuốc, một số loài gần gũi bị dùng lẫn làm “Yams”, chẳng hạn như D. alata L., D. exalata CT Ting & MC Chang, D. persimilis Prain et Burkill, D. fordii Prain et Burkill và D. japonica Thunb. Để ước tính mối quan hệ di truyền giữa các loài đó và phát triển một phương pháp nhanh chóng và chính xác cho D. polystachya xác định. Lặp lại trình tự đơn giản bên trong (ISSR), Đa hình khuếch đại chuỗi Intron (ISAP), Đa hình khuếch đại liên quan đến trình tự (SRAP) và vùng khuếch đại đặc trưng trình tự (SCAR) được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết hợp các dấu hiệu ISSR, ISAP và SRAP, một mức độ khác biệt cao giữa các loài Dioscorea đã được phát hiện. Hơn nữa, dòng gen tương đối cao ( N m = 0,3293) ở những loài này đã được quan sát thấy. Nguyên nhân chính của hiện tượng này có thể là do có sự trao đổi gen trong các vật liệu hoang dã. Kết quả phát sinh loài và sự tương đồng về di truyền cho thấy D. japonica có mối quan hệ di truyền gần nhất với D. polystachya. Xem xét sự biến đổi giữa các loài thấp nhất được quan sát thấy ở D. polystachya và sự khác biệt di truyền cao nhất ở D. japonica, chúng tôi đề xuất phân loại hỗn hợp loài D. polystachya - D.japonica cho mục đích nhân giống và bảo tồn. Dữ liệu phát sinh loài trong nghiên cứu này cho thấy D. alataD. persimilis nên là các loài độc lập tương ứng thay vì các giống trồng trọt. Hơn nữa, một chỉ thị SCAR đã được phát triển và có thể được sử dụng để phân biệt loài thảo mộc D. polystachya đích thực với các loài Dioscorea bị nhầm lẫn khác. Nhìn chung, các kết quả này rất hữu ích như là hướng dẫn cho các chương trình chọn giống và các hoạt động bảo tồn.

Lê Thị Tú Linh

5

TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ CHỌN GIỐNG  MỚI ĐỂ CẢI THIỆN GIỐNG CỦ MÀI ( Dioscorea spp.): HIỆN TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG

K Darkwa et al

Plant Breeding, 2020, 139 (3): 474-497.

     Củ mài (Dioscorea spp.) là một loại cây trồng lấy củ quan trọng với tiềm năng lớn như một loại thực phẩm chức năng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tuy nhiên, cây trồng đã không đạt được mức tăng năng suất trong nhiều thập kỷ do những hạn chế trong sản xuất. Bài báo này đánh giá những tiến bộ đạt được của các nỗ lực trong chọn giống mới và sự phát triển, hiện trạng và ứng dụng các công cụ, công nghệ chọn giống mới để thay đổi di truyền cải tiến để cải thiện giống củ mài. Những tiến bộ đáng kể đã đạt được trong việc cải thiện di truyền củ mài trong những năm qua dẫn đến việc xác định và phát triển một số dòng vô tính cải tiến và các nguồn biến dị cho các giá trị kinh tế quan trọng khác nhau. Những phát hiện quan trọng cũng đã được thực hiện để phát triển các chỉ thị phân tử đa dạng, các cấu hình hệ phiên mã và chuyển hóa của các tính trạng quan trọng, lập bản đồ tính trạng và tạo ra trình tự hệ gen tham chiếu của các loài chính. Tuy nhiên, dường như có một sự chuyển dịch chậm chạp của các cải tiến nghiên cứu sang các ứng dụng rộng rãi. Những tiến bộ này cùng với việc tích hợp các phương pháp và công nghệ thực nghiệm và đổi mới vào quá trình chọn giống sẽ nâng cao và thúc đẩy chọn giống củ mài và đảm bảo cung cấp nhanh chóng các giống cải tiến có các tín trạng nông học và chất lượng vượt trội.

Khuất Thị Chung

 

(Nguồn tin: )

tResourceLoader>